-Một số công dụng của các loại cây thuốc nam

Trị ho bằng cây cỏ
- Húng chanh (còn gọi là tần dày lá) là một dược liệu chữa ho hen, cảm cúm. Tinh dầu húng chanh có tác dụng kháng sinh mạnh đối với vi khuẩn gây ho như tụ cầu, liên cầu, phế cầu…
- Hiện nay, ở các quốc gia kỹ nghệ phát triển, dược thảo đang được công chúng sử dụng rộng rãi. Những bài thuốc từ “mẹ thiên nhiên” như lá, củ, rễ, vỏ, hoa… đã mau chóng trở thành những phương tiện trị liệu ưa thích của nhiều người.
- Trong ngành công nghệ dược phẩm nước ta cũng vậy. Ngày nay, để trị ho, người ta thường ưa chuộng những loại dược phẩm có nguồn gốc từ tinh dầu của các cây thuốc hơn. Tác dụng của chúng đã được chứng minh qua hàng trăm năm nay như bạc hà, tần dày lá, gừng, tràm…
Bạc hà: Trong tinh dầu bạc hà có chất menthol có khả năng làm dịu ho, làm loãng niêm dịch, thường được dùng điều trị cảm sốt nhức đầu, sổ mũi, viêm họng, ho, kích thích tiêu hóa.
Gừng: Là vị thuốc quý chữa bách bệnh, được dùng từ rất lâu ở VN cũng như trên thế giới, có tác dụng điều trị cảm mạo, làm ra mồ hôi, chữa ho mất tiếng, viêm họng, chống cảm lạnh và chống nhiễm khuẩn trong các chứng ho, sổ mũi. Gừng còn là vị thuốc chữa đầy bụng, ăn uống không tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng. Tinh dầu gừng có tác dụng kháng nhiều chủng vi khuẩn, làm loãng niêm dịch, giảm ho, chống viêm và giảm đau.
Tràm: Kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học đã chứng minh, trong tinh dầu tràm chứa eucalyptol là một hoạt chất có tính sát trùng, dùng rất tốt để chữa ho, kích thích tiêu hóa. Nó được đào thải chủ yếu qua đường hô hấp sau khi phân tán trong huyết tương.
Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ bào chế hiện đại từ các thành phần thiên nhiên đang rất được chú trọng, đặc biệt là sự kết hợp các thành phần hoạt chất trích tinh từ các cây thuốc, vị thuốc thiên nhiên.
CÂY ỚT
- Ớt là loại cây đã được con người trồng trọt và thu hái từ lâu đời. Với không ít người, ớt là loại gia vị không thể thiếu trong các bữa ăn, giúp làm tăng cảm giác ngon miệng. Nhưng có lẽ ít ai biết ớt còn là một vị thuốc rất quý trong y học cổ truyền.
- Tác dụng chữa bệnh của ớt
Quả ớt còn có nhiều tên gọi khác nhau như Lạt tiêu, Lạt tử, Ngưu giác tiêu, Hải tiêu… Tên khoa học Capsium frutescens L; Capsium annuum L., thuộc họ Cà Solanaceae. Là một cây nhỏ có thể sống vài năm, thân dưới hóa gỗ. Cây có nhiều cành, nhẵn. Lá mọc so le, hình thuôn dài, đầu nhọn. Hoa mọc đơn độc ở kẽ lá. Quả mọc rủ xuống đất, chỉ riêng ở cây ớt chỉ thiên thì quả lại quay lên trời. Có thể được trồng hoặc mọc hoang. Các bộ phận của cây ớt như quả, rễ và lá đã được dùng làm thuốc từ nhiều đời nay.
- Theo y học cổ truyền, ớt có vị cay, nóng. Tác dụng khoan trung, tán hàn, kiện tỳ, tiêu thực, chỉ thống (giảm đau), kháng nham (chữa ung thư…) Nhân dân thường dùng để chữa đau bụng do lạnh, tiêu hóa kém, đau khớp, dùng ngoài chữa rắn rết cắn… Ngoài dùng làm thuốc, nhân dân ta còn thường dùng lá ớt nấu canh ăn.
- Nghiên cứu của y học hiện đại cũng thống nhất với y học cổ truyền về tác dụng chữa bệnh của ớt. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc cho thấy quả ớt có rất nhiều ích lợi cho sức khỏe. Trong ớt có chứa một số hoạt chất sau: Capsicain là một Alkaloid chiếm tỷ lệ khoảng 0,05-2%. Cấu trúc hóa học đã được xác định là acid isodexenic vanilylamit, có đặc điểm bốc hơi ở nhiệt độ cao, gây hắt hơi mạnh. Ngoài ra còn có Capsaicin, là hoạt chất gây đỏ, nóng, chỉ xuất hiện khi quả ớt chín, chiếm tỷ lệ từ 0,01-0,1%. Một điều lý thú là Capsaicin có tác dụng kích thích não bộ sản xuất ra chất Endorphin, một chất Morphin nội sinh, có đặc tính như những thuốc giảm đau, đặc biệt có ích cho những bệnh nhân bị viêm khớp mạn tính và các bệnh ung thư. Ngoài ra, ớt còn giúp ngăn ngừa bệnh tim do chứa một số hoạt chất giúp máu lưu thông tốt, tránh được tình trạng đông vón tiểu cầu dễ gây tai biến tim mạch. Ớt còn có tác dụng ngăn ngừa tình trạng huyết áp tăng cao. Một số nghiên cứu cho thấy, những loại ớt vỏ xanh, trái nhỏ có hàm lượng capsaicin nhiều hơn. Ngoài ra, trong quả ớt còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin C, B1, B2, acid citric, acid malic, beta caroten…
- Ngoài việc dùng làm thực phẩm, quả ớt còn được nhân dân ta sử dụng làm thuốc chữa bệnh từ ngàn xưa. Trong kho tàng y học dân gian, có không ít bài thuốc quý trong đó có ớt.
- Một số bài thuốc nam công dụng có ớt
Chữa rụng tóc do hóa trị liệu: Ớt trái 100g, ngâm với rượu trắng trong 10-20 ngày. Dùng rượu này bôi lên da đầu có tác dụng kích thích mọc tóc. Giảm đau do ung thư, đau khớp: ăn 5-10g ớt mỗi ngày. Chữa ăn uống kém tiêu do ung thư: ớt 100g, hắc đậu xị 100g, tán bột ăn hàng ngày. Chữa ăn uống chậm tiêu: ớt trái dùng làm gia vị, ăn hàng ngày. Chữa đau thắt ngực: ớt trái 2 quả, đan sâm 20g, nghệ đen 20g. Sắc uống ngày 1 thang. Chữa đau dạ dày do lạnh: ớt trái 1-2 quả, Nghệ vàng 20g, tán bột uống ngày 2-3 lần. Chữa viêm khớp mạn tính: ớt trái 1-2 quả; Dây đau xương, thổ phục linh (củ khúc khắc) mỗi vị 30g. Sắc uống ngày 1 thang. Chữa bệnh chàm (eczema): lá ớt tươi 1 nắm, mẻ chua 1 thìa. Hai thứ giã nhỏ, lấy vải sạch gói lại, đắp lên nơi bị chàm đã rửa sạch bằng nước muối. Chữa tai biến mạch máu não: lá ớt (loại ớt chỉ thiên quả nhỏ) đem giã nhỏ, thêm nước và ít muối, chắt nước cho người bệnh uống, bã đắp vào răng sẽ tỉnh. Chữa rắn rết cắn: lá ớt giã nhỏ, đắp vào nơi bị thương, băng lại. Ngày làm 1-2 lần cho đến khi hết đau, 2-3 giờ là khỏi. Chữa bệnh vẩy nến: Lá ớt cay 1 nắm to (1 nắm chặt tay và đem sao chín nhưng không cháy), tinh tre đằng ngà cạo lấy 1 bát, lá sống đời (lá thuốc bỏng) 7-9 lá, thiên niên kiện khoảng 300g. Tất cả cho vào nồi với 2 lít nước, đun sôi kỹ, uống dần thay nước chè, uống chừng 3 ấm là khỏi. Đau bụng kinh niên: Rễ cây ớt, rễ chanh, rễ hoàng lực, mỗi thứ khoảng 10g. Sao vàng, sắc uống ngày 1 thang. Chữa đau lưng, đau khớp: Ớt chín 15 quả, lá đu đủ 3 cái, rễ chỉ thiên 80g. Tất cả đem giã nhỏ ngâm cồn với tỷ lệ 1/2, dùng để xoa bóp sẽ mau khỏi. Chữa mụn nhọt: Lá ớt giã nát với ít muối, dùng đắp vào nhọt đang mưng mủ sẽ bớt đau nhức, dễ vỡ mủ, mau lành. Chữa khản cổ: Dùng ớt làm thuốc súc miệng (dưới dạng cồn thuốc). Chữa rắn rết cắn: Lá ớt giã nhỏ, đắp vào vết thương cho đến khi hết đau nhức thì bỏ đi. Ngày đắp 1-2 lần cho đến khi hết đau. Thường chỉ 15-30 phút thì hết đau.
GỪNG – VỊ THUỐC QUEN MÀ LẠ
- Gừng được dùng nhiều trong ăn uống, chữa bệnh và cho đến tận bây giờ không phải chúng ta đã biết hết, giải thích được mọi công dụng quen thuộc và mới lạ của nó.
Một vài tác dụng của gừng- Trong gừng tươi có enzym protease phân hủy rất mạnh các protein thành các amino acid làm cho thức ăn mềm, dễ tiêu hóa, loại được các chuỗi peptid lạ nên chống được dị ứng cho một số người không quen. Đây là một trong những lý do mà người ta dùng gừng làm gia vị khi chế biến cá, ốc.- Gừng có tác dụng kích thích nhu động ruột, nhưng lại không gây nên sự co thắt quá mức ở bộ máy tiêu hóa. Điều này giải thích được tác dụng làm dễ tiêu, chống tiêu chảy, đầy hơi và chống ói mửa.- Trên chuột thí nghiệm, gừng ức chế việc gây loét dạ dày, có thể do gừng ức chế sự hình thành histamin.

- Những người có thai (dưới 20 tuần) bị nôn trầm trọng phải nhập viện được cho uống mỗi ngày 4 lần, mỗi lần 250mg gừng khô làm giảm được nôn rõ rệt. So sánh gừng với metoclopramid thấy tác dụng chống nôn của gừng không thua kém (1.000mg bột gừng khô có hiệu lực tương đương với 10mg metoclopramid) nhưng ưu điểm của gừng là không gây tác dụng phụ như khi dùng metoclopramid.

- Trước khi lên tàu xe (khoảng 30 phút) nếu nhai một củ gừng bằng ngón tay cái với muối sẽ bảo đảm không bị say tàu xe suốt cuộc hành trình. Mowrey và Clayson (1982) đã làm thí nghiệm so sánh gừng và dramamin nhận thấy 940mg bột gừng khô có hiệu lực chống say hơn 100mg dramamin trong khi gừng không gây ra cảm giác buồn ngủ, khô miệng, táo bón và bí đái như dùng dramamin. Một nhóm các nhà nghiên cứu Anh cho rằng tác dụng chống say tàu xe của gừng là do làm êm dịu dạ dày và họ cho một số người bệnh uống trước gừng, thấy gừng làm giảm được đau dạ dày khi giải phẫu.

- Các nhà nghiên cứu Đan Mạch cho người bệnh uống 5g gừng tươi mỗi ngày, kéo dài trong một tuần lễ thấy gừng ngăn chặn cơ thể sản xuất ra dramacin, một chất gây kết dính tiểu cầu tạo thành cục máu đông làm nghẽn mạch, vì thế có hy vọng dùng gừng chống nghẽn mạch như từng dùng aspirin mà chắc chắn là sẽ rẻ tiền và an toàn hơn.

- Trong thí nghiệm trên mèo đã bị gây mê, gừng có tác dụng kích thích trung tâm vận mạch, đồng thời kích thích tim, làm cường tim. Vì thế khi bị lạnh dùng gừng làm ấm, hưng phấn. Mặt khác gừng lại làm giãn mạch, tăng tiết mồ hôi. Vì thế khi bị sốt dùng gừng hạ nhiệt.

- Trong bệnh đau nửa đầu dùng 500- 600mg gừng khô hòa với nước, uống lúc lên cơn đau và lặp lại 4 giờ/lần trong 4 ngày liền thấy giảm rõ cơn đau sau 30 phút, không thấy có phản ứng phụ. Sau đó thay bằng ăn gừng tươi hằng ngày thấy cơn đau nửa đầu xảy ra thưa hơn, nhẹ hơn. Phát hiện này (được công bố trên tạp chí J.Ethnopharmacol, 1990) của một phụ nữ 42 tuổi từng bị cơn đau nửa đầu hành hạ và đã từng dùng nhiều loại thuốc trước đó. Nay người ta dùng kinh nghiệm này để chữa bệnh đau nửa đầu cấp tính (bằng cách dùng gừng tươi, hoặc gừng khô, hoặc chất trích ly từ gừng đã chuẩn hóa).

- Trong gừng (theo F.Kluchi, Chem Pharm, 1992) có các chất chống ôxy hóa, ức chế hình thành các chất gây viêm (prostaglandin, thronboplaxan, leucotrien). Gừng còn được xem có tác dụng điều hòa miễn dịch, tăng lượng corticosteron tự nhiên trên động vật thí nghiệm nhưng không gây tác dụng phụ làm teo tuyến thượng thận. Trong gừng có nhiều tinh dầu trong đó có jamical có tính diệt nấm và mecin có tính diệt khuẩn. Vì những lý do khá đa dạng này mà gừng được dùng làm thuốc chữa các chứng viêm đường hô hấp trên (giã nát một ít gừng với muối ngậm hay vắt lấy nước nhỏ mũi), dùng giảm đau kháng viêm (giã nát gừng tươi với một ít muối, bó vào chỗ đau khi bị ngã, giã nát gừng tươi xoa bóp khi đau nhức). Trong một nghiên cứu (được công bố trên tạp chí Med. Hypotheis, 1989) các nhà nghiên cứu đã cho 18 người bị viêm xương khớp, 10 người bị đau cơ dùng gừng từ 3 tháng đến 30 tháng (với liều từ 500-1.000mg gừng khô) thì 75% người viêm khớp và 100% người đau cơ đã được giảm đau và giảm sưng. Ở một thí nghiệm khác, 7 người bị thấp khớp nặng không đáp ứng với nhiều loại thuốc khác nhưng khi dùng mỗi ngày 5g gừng tươi hoặc 100-1.000mg gừng khô thì bệnh biến chuyển rõ rệt: giảm đau, cải thiện độ hoạt động của khớp, giảm sưng, giảm cứng khớp vào buổi sáng.

- Gừng còn có tác dụng tráng dương, giúp tăng cường hoạt động cho người yếu sinh lý do tuổi tác. Trong các thang thuốc dùng vào mục đích này các lương y thường cho thêm vào vị gừng tươi và thắt ngón chân cái thì sẽ dẻo dai hơn khi giao hợp. Một số phụ nữ tế nhị thường chiêu đãi các vị lang quân đi xa về bằng món ốc hương hấp lá gừng chấm với nước mắm gừng để có được niềm vui trọn vẹn.

- Trên thị trường hiện có một số thuốc làm từ gừng như thuốc chống nôn (bd: nonon), thuốc chống say tàu xe (bd: zinziber), thuốc trị ho (bd: tragutan, phối hợp gừng với tràm). Tiếc rằng những sản phẩm trong nước làm từ gừng còn quá ít, trong khi phải nhập ngoại một lượng lớn thuốc hóa dược có tác dụng không hơn gừng (như các thuốc hóa dược chống nôn, chống say tàu xe đã có so sánh ở trên).

- Theo nhiều nghiên cứu thì gừng tươi có tác dụng tốt hơn (do các hoạt chất từ gừng như tinh dầu, enzym, các chất chống nấm, diệt khuẩn… được bảo quản nguyên vẹn hơn) trong khi đó việc chế ra được sản phẩm dùng cho một số đông từ gừng khô sẽ thuận lợi hơn nhiều. Chuẩn hóa nguyên liệu như các nước đã làm là cách làm cho các chế phẩm chế từ gừng được ổn định, từ đó nâng cao chất lượng dược phẩm.

- Gừng từ nhiều vùng khác nhau không hoàn toàn giống nhau (gừng nhà nhỏ, cay trong khi gừng núi lớn, ít cay hơn). Y học cổ truyền phân biệt gừng khô (can khương) và gừng tươi (sinh khương) với cách dùng có chỗ khác nhau. Bên cạnh việc nghiên cứu áp dụng các công dụng đã được phát hiện thì việc nghiên cứu những vấn đề trên cũng là điều nên làm

MẬN – VỊ THUỐC ĐA NĂNG
- Nhân hạt mận: vị đắng, tính bình, có tác dụng lợi tiểu nên được dùng chữa phù thũng và làm tan máu ứ, dùng 12g phối hợp các vị khác.
- Quả mận vị chua, chát, tính bình, ăn vào bớt đau nóng khớp xương. Tuy nhiên, nếu ăn nhiều sẽ nóng âm ỉ trong bụng.
- Rễ cây mận có tính lạnh, cạo bỏ lớp ngoài rễ, sắc từ 20-30 g lấy nước uống, chữa khí hư bạch đới. Nước sắc này còn dùng để ngậm, chữa đau răng.
- Hoa mận thơm, vị đắng, dùng chữa tàn nhang, sạm đen; khi xát vào da sẽ làm mất dần vết sạm và làm da sáng lại.
- Nhựa mận vị đắng, tính lạnh, có tác dụng chữa mắt sưng đau, dùng mỗi ngày 1-2 g, tán bột uống với nước sắc hạt muồng sao.
- Lá mận vị chua, tính bình, sắc 20-30 g lấy nước cho trẻ uống, chữa sốt cao, co giật.
- Vỏ cây mận lấy lớp trắng, dùng 20-30 g sắc uống chữa phiền khát, bạch đới, nước sắc còn dùng để ngậm chữa đau răng và làm lành mụn lở.

CỦ KIỆU THUỐC QUÝ TỪ CỦ KIỆU
- Kiệu là loại cây thảo, thân hành mầu trắng, có nhiều vảy mỏng bọc bên ngoài. Theo đông y, củ kiệu có vị cay, đắng, tính ấm; vào ba kinh phế, vị và đại tràng. Có tác dụng lý khí, chống tức ngực, thông dương khí, tán uất kết, kiện vị, tiêu thực.
- Chủ trị tức ngực, khó chịu ở vùng dạ dày, nôn mửa, kiết lỵ, ung nhọt lở loét, ….
- Liều dùng: 5-10g khô (tươi 30-60g), sắc hoặc tán bột, làm viên uống. Dùng ngoài giã đắp hoặc vắt lấy nước bôi.
- Kiêng kỵ: Người phát nóng do “khí hư” hoặc “âm hư”, mồ hôi ra nhiều, đầu đau không nên dùng độc vị. Kiệu có tính hoạt lợi, không bị tích trệ cũng không nên dùng.
Một số bài thuốc có sử dụng củ kiệu:
- Chữa tỵ uyên (viêm mũi mạn tính): Dùng củ kiệu 9g, tân di hoa 6g, mộc qua 9g; nấu nước uống trong ngày.
- Qua lâu giới bạch bạch tửu thang: Dùng qua lâu 1 trái (giã nát), giới bạch 15g, rượu trắng 100 ml, nước 500 ml, cùng sắc uống. Sắc lấy 200 ml dịch thuốc, chia ra uống dần; uống ấm – nếu nguội cần hâm lại. Tác dụng: Chữa chứng tức ngực, đau thắt tim, suyễn thở do hàn đàm ứ đọng gây nên.
- Chỉ thực giới bạch quế chi thang: Chỉ thực 4 trái, hậu phác 12g, giới bạch 15g, quế chi 9g, qua lâu 1 trái (giã nát). Năm vị đem sắc-với 100 ml nước. Đầu tiên nấu chỉ thực và hậu phác, sắc lấy 500ml dịch thuốc, bỏ bã, sau đó cho các vị thuốc còn lại vào, nấu nhỏ lửa thêm 20-30 phút là được. Chia ra 3 lần uống trong ngày, uống ấm. Tác dụng: Chữa tức ngực, đau tức ở vùng tim.
- Chữa đau thắt tim: Dùng củ kiệu 9g, qua lâu 18g, đan sâm 9g, khương hoàng 9g, ngũ linh chi 9g, quế chi 6g, đào nhân 9g, hồng hoa 9g, viễn chí 9g, trầm hương bột 3g (hòa vào sau). Sắc nước uống trong ngày.
- Chữa kiết lỵ, ỉa chảy, mót rặn: Dùng củ kiệu 9g, sài hồ 9g, bạch thược 12g, chỉ thực 6g, cam thảo 4g. Sắc nước uống.
- Chữa xích lỵ – đi lỵ phân lẫn máu: Dùng củ kiệu 12g, hoàng bá 6g, sắc nước uống. Hoặc dùng kiệu 1 nắm, thái nhỏ, nấu cháo ăn.
- Chữa ỉa chảy, nôn khan không ngừng: Dùng kiệu 1 nắm, nước 500ml, sắc cạn còn một nửa, chia thành nhiều lần uống.
- Chữa hôn mê do trúng khí độc: Dùng kiệu giã nát, vắt lấy nước nhỏ vào mũi.
- Chữa lở ngứa: Dùng lá kiệu nấu nước rửa, hoặc giã nát đắp lên chỗ da bị bệnh.
- Chữa bỏng: Dùng kiệu giã nhỏ, hòa với mật ong, vắt lấy nước bôi vào chỗ bị bỏng, giúp da chóng lành.
- Chữa hóc xương cá: Dùng kiệu 1 nhúm, nhai nát, cuốn một đầu sợi dây nhỏ vào trong, nuốt đến chỗ xương bị hóc, cầm đầu dây kéo ra từ từ.

CÂY SẢ, LÀ VỊ THUỐC
- Sả thường được dùng để chữa các chứng bội thực, đau bụng đi tả, nôn ọe, cảm sốt, trẻ con kinh phong, ngộ độc rượu. Liều dùng mỗi ngày từ 6-12g.
- Sả là loại gia vị thông dụng để tạo mùi thơm, kích thích tiêu hóa. Lá sả có mùi thơm đặc biệt, trừ được ruồi muỗi, rắn rết. Lá sả đun nước gội đầu, vừa thơm vừa mượt lại giúp phòng bệnh mùa lạnh, ít rụng tóc.
- Sách xưa gọi sả là xương mao và ghi: xương mao vị cay, tính ấm, giúp tiêu hóa, thông khí khỏi nôn (chỉ ẩu), tiêu đờm, sát trùng, giảm đau, trấn kinh, trừ phong, lợi tiểu.
Sả dùng ngoài thì có tác dụng sát trùng, tinh dầu sả luôn có giá trị trong xuất khẩu.
Bài thuốc:
1 – Trẻ em mụn nhọt, lở ngứa: Nấu nước lá sả tắm hằng ngày (kinh nghiệm dân gian).
2 – Cảm cúm: Nồi nước xông gồm lá sả, lá tre, lá bưởi (hoặc lá chanh), lá tía tô, lá ổi. Trước khi xông nên múc sẵn một chén để riêng, xông xong uống rồi đắp chăn nằm một lúc sẽ đỡ (bài thuốc gia truyền).
3 – Hai chân tự nhiên phù: Củ sả 12g, lá và bông mã đề 12g, nấu kỹ uống thay nước chè (kinh nghiệm dân gian).
4 – Có thai hay nôn ọe: Củ sả băm nhỏ hãm với nước sôi uống hàng ngày (kinh nghiệm dân gian).
5 – Nhức đầu do thời tiết: Lá sả, lá tía tô, lá kinh giới, lá ngải cứu (thiếu một thứ cũng được), thêm 3-4 củ tỏi, nấu nước xông.
6 – Chữa đau bụng tiêu chảy do lạnh (kèm theo nóng rét, nhức đầu, sôi bụng…): Củ sả 12g, vỏ quít khô 12g, búp ổi 12g, củ gấu 20g, gừng tươi 3 lát. Đổ 2 bát nước sắc còn 1 bát uống nóng (trẻ em thì chia uống làm 2-3 lần). Nếu không đỡ thì thêm 15g tía tô, rất hiệu nghiệm.

CÁ CHẠCH, CHỮA BỆNH GAN
- Đông y cho rằng cá chạch có tác dụng bổ khí huyết, chống lão suy, tráng dương, thanh nhiệt. Nó được dùng chữa nhiều bệnh, nhất là các bệnh về gan mật. Chạch có đến 17 axid-amin thiết yếu, phần lớn dễ hấp thụ. Nó được xếp vào thực phẩm màu đen có nhiều công dụng chống ôxy hóa. Nhớt của chạch có tác dụng tiêu viêm, kháng khuẩn mạnh. Một số công dụng của chạch trong phòng, chữa bệnh: Viêm gan cấp: Chạch sấy khô gần như than, nghiền bột. Mỗi lần uống 15 g. Ngày 3 lần sau bữa ăn. Trẻ em dùng liều 1/2. Viêm gan mạn: Chạch 150 g (bỏ ruột, xương) thái mỏng. Mộc nhĩ đen 2,5 g, rau kim châm 15 g. Tất cả nấu chín. Ăn nóng chia 2 lần trong ngày.
Viêm gan vàng da: Chạch 5 con, đậu phụ một miếng, hầm chạch với đậu phụ cho nhừ. Ngày ăn 2 lần. Ung thư gan: Chạch 500 g, thịt lợn nạc 160 g, nhau thai một cái, đông trùng hạ thảo 40 g, trần bì 10 g, ít nước. Chạch làm sạch nhớt, bỏ đầu rửa sạch cho dầu vào rán vàng rồi vớt ra. Các thứ còn lại đều rửa sạch, đun nước sôi rồi bỏ vào. Đun sôi lại, hầm vài tiếng, nêm muối. Món này có tác dụng kiện tỳ, khai vị, bổ can thận, ích âm, lợi khí; thích hợp với người bị ung thư gan, gầy yếu mệt mỏi, đuối sức, ăn kém, ngại nói, đau lưng, mỏi gối…
Cháo chạch chống lão suy: Chạch tươi 300-500 g. Gạo tẻ 300 g. Cháo sắp được cho chạch đã được ướp và xào sẵn vào cháo. Nấu tiếp cho chín. Khi ăn cho gia vị, thơm, tiêu. Canh chạch tráng dương: Lấy 5-6 con chạch loại to vừa, tươi sống. Làm sạch nhớt, bỏ ruột, róc xương! Đổ dầu rán mềm xương rồi cho thịt chạch vào rán để khử bớt nước. Nên dùng ít dầu để khử tanh. Thêm 300 ml rượu hoặc 600 ml nước. Vài lát gừng. Dùng lửa nhỏ đun lâu đến lúc nước thang có màu trắng sữa và còn lại 1/2 là được. Bỏ lớp dầu trắng sữa, phần nước và thịt còn lại cho muối vừa ý, ăn cái và nước canh thang. Thang canh này dùng tốt cho người kém ăn, xanh xao, thiếu máu, nghiện rượu, bệnh gan, suy nhược thần kinh và thể lực.
Cháo chạch chữa nam giới liệt dương, nữ giới đới hạ: Chạch 250 g, nhục quế và phụ phiến 10 g, gừng tươi 5 lát. Gạo tẻ lùn 100 g. Muối tinh vừa đủ. Cho quế phụ vào túi vải đổ nước, nấu lấy nước bỏ bã. Chạch làm sạch nhớt, bỏ đầu ruột, lọc lấy thịt. Nấu cháo bằng nước thuốc và chạch. Cháo chín cho gừng, muối nấu sôi lại. Ăn nóng (thận trọng tìm mua phụ phiến tốt, bào chế đúng cách để tránh ngộ độc).
Chạch hầm lạc chữa suy nhược, thiếu máu: Dùng chạch 250g, thịt lợn nạc 50 g, lạc nhân 100 g, gừng 5 g, tiêu bột 5 g, nước 200 ml. Rán qua chạch, cho nước, thịt, gừng đun to lửa 10 phút rồi hầm nhừ thịt đến khi nước còn 1/2. Nêm gia vị.
Chạch với tỏi chữa phù thũng: Dùng chạch (hết nhớt, bỏ xương) với tỏi lượng vừa ăn, xào nấu không dùng muối. Ăn liền 2-3 ngày.
Canh chạch chữa tiêu khát (tiểu đường): Chạch (làm sạch hết nhớt, bỏ xương, ruột) nấu canh với lá sen non (chưa hoặc mới nở) lượng tùy ý. Hoặc: Chạch 10 con (làm sạch nhớt, bỏ xương, ruột) lá sen khô và đủ. Chạch phơi chỗ mát (âm can) cho khô. Bỏ đầu đuôi, đốt thành than. Lá sen tán bột. Trộn hai thứ với nhau. Mỗi lần dùng 10 g. Ngày 3 lần. Uống với nước Canh chạch thanh nhiệt giải độc, trừ mẩn ngứa: Chạch 30 g (bỏ ruột), giun đất khô 10 g, rau sam 50 g sắc nước uống bỏ bã. Ngày 1 lần. Hoặc: Chạch 30 g, đại táo 15 g, gia vị vừa đủ. Nấu canh ăn ngày một thang, liền 10 ngày.
Chữa búi trĩ chảy xuống, đau đớn: Cá chạch 100 g làm sạch (hết nhớt) bỏ ruột, xương cho vào nồi, 30 g hoàng kỳ, một chén rượu gạo. Nước vừa đủ nấu chín ăn.
Chạch chữa mồ hôi trộm: Chạch 250 g, rượu gạo, lượng vừa đủ, chạch làm hết nhớt, bỏ ruột, xương, nấu với rượu cho chín để ăn. Với trẻ em: Chạch 90-120 g làm sạch nhớt, bỏ ruột, rán vàng rồi cho vào một bát rưỡi nước, ít muối vào nấu thành canh. Ngày ăn một lần. Ăn liền 3 ngày.

RIỀNG – VỊ THUỐC QUÝ
- Riềng còn gọi là cao lương khương, tiểu lương khương, phong khương. Cây riềng mọc hoang và được trồng để làm gia vị và làm thuốc, thu hoạch quanh năm nhưng tối nhất là vào mùa thu, mùa đông, đầu mùa xuân trước khi có mưa phùn để dễ phơi, sấy khô.
- Theo giáo sư Đỗ Tất Lợi thì thành phần hóa học của riềng có khoảng 1% tinh dầu, có mùi thơm long não, chủ yếu có xineola và metylxinnamat. Ngoài ra, còn có chất dầu vị cay gọi là galangola…
- Riềng có tác dụng: ôn trung, tán hàn, hết đau, tiêu thực. Riềng được dùng cả trong y học hiện đại và y học cổ truyền để làm thuốc kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon, chữa đầy hơi, các chứng đau bụng do lạnh, bụng đầy trướng, nôn mửa, tiêu chảy. Riềng có tác dụng chữa khi bị sốt rét do hàn hoặc sốt rét, sốt nóng, đau răng và các chứng trúng gió, làm ấm tỳ vị và đi lỵ lâu ngày, thổ tả, chuột rút.
Các đơn thuốc có riềng:
- Chữa đau dạ dày do hư hàn: Đau có thời gian nhất định, gặp lạnh hay đói đau nhiều, đầy bụng, nôn nước trong, đại tiện lỏng, ăn uống không ngon, sợ lạnh, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm. Dùng tâm hợp thang gồm: Cao lương khương, hương phụ mỗi vị 6-10g; bách hợp, đan sâm mỗi vị 30g; ô dược 9-12g; đinh hương 6-9g; sa nhân 3-6g. Sắc uống.
- Chữa đau dạ dày cấp: Đau đớn khó chịu, nôn oẹ, ăn uống kém. Dùng các vị sau: cao lương khương (chế với đại hoàng), thanh bì, trần bì, mộc hương, thạch xương bồ mỗi vị 6g; đinh hương 4g; sơn tra 15g. Sắc uống ngày một thang.
- Chữa đau dạ dày: Đau dữ dội, trằn trọc không yên, chân tay lạnh, môi tái, bụng trướng. Dùng thang gia vị thược dược cam thảo: Bạch thược sao 30g, cam thảo chích 10g, cao lương khương 10g, tô mộc 10g, bạch chỉ 15g. Tán bột, uống với nước lã đun sôi, hoặc sắc uống ngày một thang.
- Chữa đau bụng do lạnh, nôn mửa: Cao lương khương 8g, đại táo 5g. Sắc với 300ml còn 100ml, chia 2-3 lần uống trong ngày.
- Chữa sốt rét kém ăn: Cao lương khương tẩm dầu vừng sao 40g, can khương nướng 40g, hai vị tán nhỏ dùng trư đảm hòa vào rồi viên to bằng hạt ngô. Ngày uống 15-20 viên.
- Chữa đau bụng, đau hai bên sườn, sôi bụng, tiết tả: Cao lương khương 12g, hương phụ 12g. Tán bột, viên hoặc sắc uống sẽ hành khí giảm đau.

CỦ CẢI, ĂN CỦ CẢI CHỮA NHIỀU BỆNH
- Theo Đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát. Củ cải nấu chín vị ngọt, tính bình, quy kinh phế và vị. Củ cải có công dụng chữa nhiều bệnh khác nhau.
Củ cải trắng là củ của cây cải củ. Cải củ ngoài cách dùng củ làm thức ăn còn dùng lá (để luộc, muối dưa). Củ cải được chế biến tương đối nhiều món: thái mỏng muối dưa, luộc ăn uống nước, kho với thịt, xào với trứng hoặc thịt, nấu canh, làm gỏi, ngâm nước mắm thành món dưa ngâm, ăn quanh năm, phơi khô dự trữ để làm dưa góp.
Củ cải có nhiều tính năng, công dụng. Tập trung nhất vào nhóm chữa bệnh ở bộ máy hô hấp (ho, hen, đàm, suyễn, tức ngực, khản tiếng, mất tiếng, ho ra máu, lao) và bệnh ở bộ máy tiêu hóa (như đau vùng thượng vị, ợ chua, nôn, ăn không tiêu, chướng bụng, táo bón, lòi dom, trĩ).
- Ngoài ra còn chữa một số bệnh ở bộ máy tiết niệu do thấp nhiệt (tiểu ít, tiểu dắt, buốt, tiểu đục, có sỏi; chữa một số bệnh chuyển hóa (béo, trệ, đái tháo đường…); bệnh về máu (hoạt huyết, chỉ huyết chống chảy máu khi đại tiểu tiện, lao); còn có công dụng đặc biệt là giải độc như khi bị ngộ độc khí độc do than, gas, độc của rượu, cà, hàn the và ngộ độc nhân sâm.
- Theo y dược học hiện đại, cứ 100g củ cải có: nước 93,5g, protein 0,06g, chất béo 0,1g, đường tổng số 5,3g chủ yếu là các loại đường dễ hấp thụ (glucose, fructose); những chất khoáng cần cho cơ thể như canxi 32mg, photpho 21mg, sắt 0,6mg, mangan 0,41mg, bromine 7mg…; các vitamin nhóm B như B1 0,02mg, B2 0,03mg, niacin 0,3mg, vitamin C 25mg và nhiều loại axit amin.
- Chúng tôi xin giới thiệu một số kinh nghiệm dùng củ cải làm thức ăn và thuốc:
Hóa đờm, lợi khí, giảm ho, bổ tỳ. Có thể dùng một số món ăn bài thuốc (bánh củ cải) sau:
Bài 1: Củ cải trắng, bột mỳ mỗi thứ 500g, bột ngọt 2g, tiêu bột 1g, dầu cải 50g, muối 5g, dầu vừng 15g, thịt 300g.
Củ cải rửa sạch bào sợi, xào xơ bằng dầu cải rồi cho bột ngọt, muối, tiêu, thịt trộn để làm nhân bánh.
Bài 2: Củ cải trắng 250g, gừng tươi 15g, dầu cải 50g, bột mỳ 250g, hành 15g, thịt heo nạc 100g, muối 3g. Làm như trên.
Bài 3: Củ cải trắng 125g, hành trắng (bỏ lá xanh) 50g, trứng gà 60g, vừng 5g, bột mỳ 500g, đường 50g, muối 60g, bột ngọt 5g, dầu vừng 25g, mỡ. Làm như trên.
Chữa ho nhiều, suy nhược
Củ cải trắng 1kg, lê 1kg, gừng tươi 250g, sữa 250g, mật o­ng 250g. Lê gọt vỏ bỏ hạt, củ cải, gừng tươi rửa sạch thái nhỏ. Cho từng thứ vào vải xô vắt nước để riêng. Đổ nước củ cải, lê đun to lửa cho sôi, bớt lửa cho đến khi đặc dính thì cho nước gừng, sữa, mật o­ng vào quấy đều đun sôi lại. Khi nguội cho vào lọ đậy kín dùng dần, mỗi lần một thìa canh pha vào nước nóng để uống. Ngày hai lần.
Chữa lao phổi (kèm tức ngực, ho ra máu): Cao củ cải tươi.
Củ cải tươi 1kg, lê tươi 1kg, sinh địa tươi 500g, ngó sen tươi 1kg, mạch môn tươi 500g, rễ tranh tươi 1kg, gừng tươi 100g. Tất cả nấu sôi 30 phút, vắt lấy nước, nấu lại lần 2 rồi nhập lại cô thành cao rồi cho các vị sau đây: a giao 500g, đường phèn 500g, mật o­ng 500g, nấu thành cao đặc, cho vào lọ. Ngày uống 2 lần sáng chiều. Mỗi lần 2 muỗng canh (3ml) hòa nước ấm hoặc ngậm nuốt dần.
Miệng khô đắng, táo bón: Ăn củ cải xào với tỏi.
Chữa khản tiếng, mất tiếng dùng nước củ cải tươi giã hoặc ép. Nếu sợ lạnh thì trộn với nước gừng tươi để ngậm nuốt dần. Có thể làm mứt củ cải. Nếu phối hợp với nước giá đậu xanh thì hiệu quả càng cao, phối hợp với tỏi cũng tốt nhưng tỏi hăng và lâu hết mùi.
Trị đau do sỏi mật: Củ cải thái thành miếng dày bằng ngón tay tẩm mật o­ng trắng hoặc vàng nhạt (không dùng mật o­ng nâu sẫm). Sấy khô xong, tẩm mật o­ng rồi lại sấy lại, ăn củ cải đã tẩm sấy.
Viêm gan vàng da, thủy thũng: Sắc 60ml nước củ cải uống thay trà hằng ngày.
Trị loét khoang miệng do nhiệt: Củ cải giã lấy nước cốt ngậm súc miệng.
Trị lỵ (nhiệt lỵ): Củ cải giã lấy nước với ít mật o­ng đun lẫn để uống, lúc sáng sớm chưa ăn sáng.
Đái tháo đường: Củ cải 200g, gạo tẻ 50g, gạo nếp 50g, nấu thành cháo. Ăn nóng ngày 2 lần, ăn liền nhiều ngày.
Bí đái do tích nhiệt: Củ cải tươi 200g, hành tây 100g, gạo tẻ 50g, gia vị, nước 300ml. Nấu cháo nhừ mới cho hành, củ cải. Nấu sôi lại. Ăn ngày 2 lần lúc đói.
Hỗ trợ điều trị ung thư:
- Ung thư phổi ho ra máu: Nước củ cải 50ml, đường phèn 15g, chưng cánh thủy, ngày một thang.
- Ung thư dạ dày thực quản, nôn mửa: Củ cải giã vắt lấy nước, thêm nước, mật o­ng, nấu chín. Hoặc nước củ cải thêm mật o­ng, nước uống trộn đều, uống hằng ngày.
(Sức khỏe & đời sống)

CỦ HÀNH
- Các bà nội trợ thường xuyên dùng hành củ để làm gia vị cho các món ăn hằng ngày nhưng không phải ai cũng biết hành còn là một vị thuốc độc đáo mà Đông y gọi là “thông bạch”, giúp chữa cảm mạo, động thai…
- Sau đây là một số bài thuốc chữa bệnh từ củ hành theo lương y Trần Khiết (TP HCM).
Trị cảm mạo, ho, mồ hôi không ra, đau đầu, đau gáy
Nguyên liệu: Hành ta 5 củ, lấy cả rễ; gạo 50 g; gừng tươi 10 g.
Cách chế biến: Gừng tươi xắt lát rồi giã nát. Nấu gừng và gạo thành cháo nhuyễn (nấu loãng). Hành thái nhỏ cho vào cháo, cho thêm 3 – 5 ml giấm ăn, trộn đều, cho vào tí muối và tiêu. Nên ăn lúc cháo đang còn nóng để cho ra mồ hôi. Lưu ý, khi ra mồ hôi nhiều rồi thì không nên ăn nữa. Cũng có thể làm theo cách: nấu một bát cháo lòng, hành củ đập dập cho vào, gia vị ít tiêu, muối vừa đủ, ăn lúc cháo đang còn nóng.
Động thai
Dùng từ 20 đến 50 g củ hành tươi giã nát, cho vào một chén nước và nấu đến sôi, lọc bỏ bã, lấy nước uống từ từ.
Giải cảm
Hành củ 50 g, đậu xị 50 g, gạo trắng 60 g. Giã nát củ hành, rồi cho cả 3 thứ vào nồi nấu cháo, ăn lúc còn nóng…
Ngoài ra, hành củ còn có công dụng làm thông kinh hoạt huyết, ấm thận, giảm mỡ. Lưu ý, không được ăn hành cùng với mật o­ng.

CÂY MUA CHỮA BÁCH BỆNH
- Ở miền Trung có rất nhiều cây mua, đến mùa cây ra hoa, màu tím rất đẹp. Không chỉ đơn giản là một loài hoa, cây mua có nhiều loại, có nhiều công dụng chữa bệnh.
Mua bà – Mua mái – Dã mẫu đơn Melastoma candidum D. Don. Họ Mua Melasstomaceae, hoa màu hồng tím, lá mặt trên có lông cứng ráp, mặt dưới lông mềm. Lá thu hái quanh năm, dùng tươi và khô. Vị chua, ngọt, chát, tính bình. Công năng sinh nhiệt giải độc, lợi thấp tiêu thũng, hoạt huyết, tán ứ, giảm đau, cầm máu, tiêu viêm ở ruột, gan, mạch máu, chữa tắc mạch máu, tắc tia sữa, chữa ung thư.
Bong gân, trật khớp, gẫy xương: Bột đại hồi 10 g, bột quế chi 10 g, vỏ cây gạo tươi 200 g, lá dâu 50 g, lá mua bà 100 g. Lá tươi giã nhỏ, quyện với các loại bột cho dẻo để bó đắp.
Chữa vàng da, băng huyết: Lá sao vàng sắc uống.
Chữa mụn nhọt: Lá tươi, giã, hơ nóng đắp.
Chữa tụ máu bầm tím: Lá tươi giã trộn nước vo gạo đắp.
Chữa ung thư dạ dày: Rễ mua tươi 30 g, ngưu bì đồng 30 g, hạ khô thảo 15 g, dung thụ căn 15 g, kê nhãn thảo 15 g, hướng dương quỳ căn 15 g, bạch dương kim 10 g, xuyên phá thạch 10 g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa ung thư giáp trạng: Rễ mua 40 g, ngân hoa 30 g, thổ qua căn 40 g, tước sàng thảo 30 g, hạ khô thảo 40 g, bạch anh 30 g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa ung thư vú: Rễ mua 40 g, bạch anh 40 g, hoàng căn 30 g, nhất điểm hồng 30 g, giang bản quy 30 g, tước sàng thảo 30 g, hoàng tiêu 30 g. Sắc uống ngày 1 thang.
Mua núi – Mua thấp – Mua lùn – Mua nước Melastoma dodencandrum Lour. Họ mua – cây nhỏ mọc bò thân xanh hay đỏ tím. Hoa màu hồng ở ngọn thân 2-3 cái. Lá nhẵn 2 mặt. Thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc khô.
Chữa phụ nữ sau khi sinh bị phù nề: 50-100 g cả cây tươi, nấu nước tắm.
Chữa mụn nhọt, ứ huyết, tê thấp: 8-16 g cả cây khô sắc uống. Cây tươi giã nhuyễn đắp tại chỗ.
Gãy xương: Lá mua nước, lá si, lá bái, lá chuối tiêu, lá giỏ dẻ, lượng bằng nhau phơi khô tán bột. Khi dùng cho nước quyện cho dẻo để đắp bó.
Chữa sai khớp: 30 g cây tươi, giã nhỏ cùng với 30 g lá náng hoa trắng, 20 g lá loét mồm. Hơ hoặc xao nóng đắp bó.
Chữa ung thư tử cung, thực quản: Mua thấp 60 g, tứ diệp luật 60 g, cẩu cam thái 30 g. Sắc uống ngày một thang.
Chữa ung thư dạ dày chảy máu: Mua thấp 30 g, sắc uống ngày 1 thang.
Mua ông, mua đỏ, cẩm cang (Thái) Melastoma sanguineum Sims, họ mua. Cây cao 2m trở lên, cành có lông đỏ, lá có lông dày, mặt dưới màu đỏ máu, hoa to mọc thành xim 3-5 hoa, màu hồng thắm thu hái quanh năm, dùng tươi hoặc khô. Dùng cầm máu, sưng tấy, tê thấp. Lá tươi dán lên chỗ chảy máu. Lá tươi giã nhuyễn đắp chỗ sưng đau cơ, khớp.
Mua leo – mua giây Medinilla spirei Guill giây leo 10 m trở lên, cụm hoa hình chùy thõng xuống, hoa màu hồng đỏ hoặc nâu đỏ. Thu hái quanh năm, chữa sưng tấy tụ máu, đau cột sống. Phối hợp với các vị khác chế dạng cao dán.
Bác sĩ Phó Đức Thuần (Sức Khoẻ và Đời Sống)

NGẢI CỨU, VỊ THUỐC CỦA CHỊ EM
- Người đang có thai nếu thấy đau bụng, ra máu thì có thể dùng lá ngải cứu 16 g, tía tô 16 g, cho 600 ml nước sắc còn 100 ml, thêm chút đường, chia 3-4 lần uống trong ngày. Ngải cứu có tác dụng an thai.
- Ngải cứu còn gọi là ngải diệp, tên khoa học là Artemisia vulgaris L. thuộc họ cúc. Quanh năm đều có ngải cứu nhưng tốt nhất là hái cành và lá vào tháng 6 (gần tương ứng với mồng 5 tháng 5 âm lịch), phơi khô trong râm mát. Có khi hái về phơi khô, tán nhỏ, rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là ngải nhung, dùng làm mồi cứu để kích thích huyệt trong phương pháp châm cứu.

- Ngải cứu có tính ôn, hơi cay, dùng điều trị đau bụng kinh, kinh nguyệt không đều, động thai, thổ huyết…

- Làm thuốc điều kinh: Một tuần trước ngày kinh dự kiến, lấy mỗi ngày 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5-10g) hay dạng cao đặc (1-4g). Thuốc không có tác dụng kích thích với tử cung có thai nên không gây sảy thai.

- Kinh nguyệt không đều: Hằng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường chia uống 2 lần/ngày. Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày. Sau 1-2 ngày thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn.

ĐINH LĂNG, CÂY CẢNH VÀ VỊ THUỐC
- Không chỉ là cây cảnh thông dụng, cây rau được ưa dùng, đinh lăng còn là một vị thuốc nam có tính năng chống dị ứng, giải độc thức ăn, chống mệt mỏi và làm tăng sức dẻo dai của cơ thể. Mô tả
Đinh lăng còn được gọi là cây gỏi cá, tên khoa học là Polyscias Fruticosa Harms thuộc họ ngũ gia bì (Araliaceae). Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông chim, mép khía có răng cưa. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành tán. Quả dẹt, dài 3 – 4 mm, dày khoảng l mm. Lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng, dân gian gọi nôm na là mùi ”thuốc bắc”. Lá tươi không có mùi thơm này.
Dược tính và công dụng
- Trong dân gian, đinh lăng thường dùng để trị ho ra máu, chữa tắc tia sữa, làm mát huyết, lợi tiểu, chữa mẫn ngứa. Lá đinh lăng cũng được dùng để nấu canh với thịt, cá để bồi bổ cho sản phụ, người già hoặc người ốm mới dậy.
- Theo y học cổ truyền, rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, lá có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ. Nói chung, ngoài tác dụng lương huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lăng gần giống như nhân sâm.
Theo nghiên cứu của Học viện Quân sự Việt Nam, dung dịch cao đinh lăng có tác dụng:
- Tăng biên độ điện thế não, tăng tỉ lệ các sóng alpha, bêta và giảm tỉ lệ sóng delta. Những biến đổi này diễn ra ở vỏ não mạnh hơn so với ở thể lưới.
- Tăng khả năng tiếp nhận của các tế bào thần kinh vỏ não với các kích thích ánh sáng.
- Tăng nhẹ quá trình hưng phấn khi thực hiện phản xạ trong mê lộ.
- Tăng hoạt dộng phản xạ có điều kiện gồm phản xạ dương tính và phản xạ phân biệt. Nhìn chung, dưới tác dụng của cao đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn.
Một vài đơn thuốc có sử dụng đinh lăng
Bồi bổ cơ thể, ngừa dị ứng
Lá đinh lăng tươi từ 150 – 200 g, nấu sôi khoảng 200 ml nước (có thể dùng nước sôi có sẵn ở ”phích”). Cho tất cả lá đinh lăng vào nồi, đậy nắp lại, sau vài phút, mở nắp và đảo qua đảo lại vài lần. Sau 5 – 7 phút, chắt ra để uống nước đầu tiên, đổ tiếp thêm khoảng 200 ml nước vào để nấu sôi lại nước thứ hai. Cách dùng lá tươi thuận tiện vì không phải dự trữ, không tốn thời gian nấu lâu, lượng nước ít, người bệnh dễ uống nhưng vẫn bảo đảm được lượng hoạt chất cần thiết.
Chữa tắc tia sữa
Rễ đinh lăng 40 g, gừng tươi 3 lát đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.
Chữa nổi mề đay, mẩn ngứa do dị ứng
Lá đinh lăng khô 80 g, đổ 500 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày.
Ho suyễn lâu năm
Rễ đinh lăng, bách bộ, đậu săn, rễ cây dâu, nghệ vàng, rau tần dày lá tất cả đều 8 g, củ xương bồ 6 g; Gừng khô 4 g, đổ 600 ml sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống lúc thuốc còn nóng.
Phong thấp, thấp khớp
Rễ đinh lăng 12g; cối xay, hà thủ ô, huyết rồng, cỏ rễ xước, thiên niên kiện tất cả 8 g; vỏ quít, quế chi 4 g (riêng vị quế chi bỏ vào sau cùng khi sắp nhắc ấm thuốc xuống). Đổ 600 ml nước sắc còn 250 ml. Chia làm 2 lần uống trong ngày. Uống khi thuốc còn nóng.

NỒI XÔNG GIẢI CẢM 
- Xông giải cảm là một phương pháp chữa bệnh cổ truyền, có tác dụng giải biểu, chữa các chứng ngoại cảm phong hàn hoặc phong nhiệt, khi bệnh mới nhiễm.
CÁC THẢO DƯỢC THƯỜNG DÙNG
- Loại dùng chung cho cả cảm hàn, cảm nhiệt: Lá sả, lá bưởi hoặc vỏ ngoài quả bưởi chín (bỏ cùi trắng, thái mỏng), ngải cứu, bồ bồ hoặc nhân trần, lá khuynh diệp (hoặc lá chè đồng, cây chổi xuể), lá tre, cành lá thanh táo (lá tre và cành lá thanh táo vừa là thuốc vừa là độn cho chặt nồi, chiếm 40% khối lượng tổng số dược thảo).
- Loại dùng riêng, tùy theo tính bệnh
- Cảm nhiệt: Bạc hà, cúc tần, lá dâu, hương nhu (tía và trắng).
- Cảm hàn: Cành lá kinh giới (có nụ là tốt), tía tô, lá gừng vàng, húng chanh.
Tổng lượng dược liệu: Sau khi chọn nhặt sạch sẽ khoảng 600-1.000g.
TRÌNH TỰ THỰC HIỆN
- Chuẩn bị dược thảo: Ghi vào giấy những dược thảo cần có theo thực bệnh. Thu hái dược thảo trong thiên nhiên hoặc mua ở những tiệm thuốc Nam, chọn mua theo đơn ghi. Dược thảo phải chọn nhặt lá úa, rửa thật sạch, đặt vào nồi (xoong) đổ 5-6 lít nước sạch.
- Nấu nước xông: Đun vừa sôi đều 5 phút thì hạ lửa, lấy lá chuối tươi hoặc màng mỏng PE bịt kín miệng nồi, đậy vung đun thêm cho sôi trở lại chừng 1 phút (để tích hơi nước).
- Tiến hành xông: Đặt nồi nước xông trong phòng kín gió. Người bệnh cởi bỏ quần áo, ngồi trước nồi nước xông còn đậy kín. Chuẩn bị sẵn khăn khô sạch để bên cạnh trùm chăn đơn (vỏ bọc chăn bông, bằng vải) cho kín người và nồi nước xông. Ngẩng cao đầu, nghiêng sang một bên để tránh hơi nước nóng phả mạnh vào mặt, rồi từ từ hé vung nồi cho hơi nước thoát ra, sao cho độ nóng vừa ở mức chịu đựng được. Hít thở mạnh và sâu để hương tinh vào sâu trong phế nang. Thời gian xông hơi khoảng 15 phút là vừa. Lau sạch mồ hôi: Bằng khăn khô sạch. Uống một chén nước xông: Gạn lấy 1 chén nước trong của nồi nước xông (khoảng 50ml) cho người bệnh uống.
- Sau khi xông khoảng 15-20 phút, bỏ hết dược liệu bã, gạn lấy nước trong của nồi xông, pha thêm nước ấm sao cho đạt 37-380C, rồi tắm trong phòng kín gió, lau khô cơ thể, mặc quần áo sạch.
Các trường hợp chỉ định và chống chỉ định
Chỉ định: Người mới nhiễm cảm nóng hoặc cảm lạnh.
Chống chỉ định: Người ra nhiều mồ hôi (vã mồ hôi), mất nước, mất máu nhiều. Chóng mặt, già yếu lú lẫn, parkinson, người bệnh nặng. Phụ nữ có thai trên 3 tháng, trẻ em dưới 12 tuổi.
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA NỒI XÔNG GIẢI CẢM
Nồi xông giải cảm kết hợp tác dụng vật lý của hơi nước nóng và tác dụng dược lý của các chất bay hơi chứa trong dược thảo kéo theo hơi nước.
- Hơi nước nóng làm giãn mạch ngoại biên, lượng máu được tăng cường. Kích thích tuyến mồ hôi hoạt động, đào thải các chất độc trong cơ thể ra ngoài.
- Tinh dầu và các chất bay hơi chứa trong thảo dược được kéo theo hơi nước, tác động trực tiếp qua đường thở đến tận phế nang, nhờ quá trình trao đổi chất ở phế nang nó được ngấm vào máu có tác dụng toàn thân, đồng thời sát khuẩn toàn bộ đường hô hấp. Qua niêm mạc mắt, mũi, tai, da… làm thông các ống dẫn mắt, mũi, tai và các xoang, làm giảm stress, kích thích thần kinh… giảm mệt mỏi, ù tai, ngạt mũi, nhức đầu rất hiệu quả.

CÔNG DỤNG TRÁI NHÀU
- Báo thời trang trẻ số 19 ngày 25/07/2003 có viết về tác dụng của quả Nhàu như sau: Mùi khai của quả nhàu có thể làm bạn khó chịu nhưng trên thực tế nó có rất nhiều công dụng trong việc bảo vệ sức khỏe của con người
TÁC DỤNG CHÍNH Loại bỏ độc tố: Tăng khả năng hấp thụ, tiêu hóa, sử dụng vitamin, thảo dược và khoáng chất. Có khả năng chống oxy hóa cao giúp ngăn chặn sự hủy hoại những gốc tự do.
THÀNH PHẦN Có 150 chất được tìm thấy trong quả nhàu, trong đó có: beta-carotence, canxi, axit linoleic, magiê, kali, protein, các vitamin nhóm B và những chất chống oxy hóa như vitamin C… Ngoài những chất này, quả nhàu đặc biệt có chứa hợp chất prexonine. Hợp chất này khi kết hợp với enzym prexoronase (có trong dạ dày) sẽ tạo thành chất xeronine. Khi protein kết hợp với xeronine tạo thành những khối có khả năng sản xuất năng lượng và giúp những tế bào khỏe mạnh phát triển hoàn hảo.
•  Giảm đau: Chữa những cơn đau trong cơ thể như đau lưng, cổ, đau cơ, thần kinh và những cơn đau như căng thẳng, đau nửa đầu. •  Hỗ trợ hệ miễn dịch: Kích thích việc sản xuất những tế bào T – tế bào đóng vai trò chủ chốt trong việc chống lại bệnh tật. Giúp đai thực bào và tế bào bạch huyết họat động mạnh. Có thể tấn công nhiều loại vi khuẩn, kiềm chế khả năng tiền ung thư và sự phát triển của khối ung thư bằng cách cho phép những tế bào khác thường hoạt động bình thường trở lại. •  Chống viêm: Có tác dụng trong việc chữa các bệnh liên quan đến cơ và khớp như bệnh viêm khớp, hội chứng nhức xương cổ tay. Giảm đau và giảm sưng vết thương với triệu chứng như vết thâm tím, căng da và bỏng. Hiệu quả trong việc chữa trị vết loét, ngừa phát ban.  • Chữa bệnh: Nhiều tài liệu khoa học đã cho thấy hữu ích của quả nhàu đối với dạ dày (bệnh tiêu chảy, ợ nóng, buồn nôn, viêm ruột kết, loét dạ dày), cơ quan sinh dục (những vần đề về kinh nguyệt, nhiễm nấm men), gan và lá lách (bệnh đái đường, tuyến tụy), hệ hô hấp (hen suyễn, viêm xoang, bệnh khí thủng), hệ thống nội tiết (bệnh tuyến giáp và tuyến thượng thân), hệ tim mạch (bệnh tim, huyết áp cao, đột quỵ), hệ thần kinh (stress, suy nhược cơ thể, trí nhớ, năng lượng),…
CÁCH DÙNG
Uống nước ép từ quả nhàu ngay khi bụng còn đói. Uống từng ngụm nhỏ, giữ trong lưỡi và ở cuống họng – điều này đặc biệt tốt đối với những người bị trầm cảm, stress, bị chấn thương… Dùng nước ép thoa lên da đầu để cải thiện tình trạng của tóc và da đầu. Chà xát quả tươi lên da để chữa bệnh nấm da và những bệnh liên quan đến da hoặc những vết bầm tím hay những vùng da, xương bị đau. Cũng có thể ngâm 1 lượng nhàu tươi giã nhuyễn vào nước ép quả nhàu và nước ấm, tạo thành một miếng đắp và đắp lên vùng da bạn muốn giảm đau. Nếu không có nhiều thời gian có thể dùng quả khô hoặc chế phẩm trà túi lọc, pha uống như trà bình thường.
UỐNG BAO NHIÊU THÌ ĐỦ Theo những nghiên cứu mới nhất của các nhà khoa học thì: •  Những người khỏe và trẻ tuổi nên uống mỗi ngày khoảng 30ml. •  Đối với người lớn tuổi hơn, uống 60ml mỗi ngày, buổi sáng và cuối chiều. •  Nếu bắt đầu chữa bệnh bằng nước ép từ quả nhàu, tháng đầu tiên nên uống khoảng 160ml/ngày. •  Người bị chấn thương đột ngột hoặc bị giải phẫu nên uống 180-240ml/ngày, sau đó uống đều đặn từ 90-120ml/ngày. •  Những người mắc những bệnh nguy hiểm như ung thư, tiểu đường nên uống thường xuyên từ 18-240ml/ngày. •  Đối với những trường hợp bệnh nguy hiểm đến tính mạng, nên uống từ 480-600ml/ngày chia thành từng phần nhỏ uống theo giờ, nếu khó uống hết lượng này. Có thể nhỏ từng giọt nhỏ vào mắt.
TRẢ LỜI THƯ BẠN ĐỌC
Hỏi: Những bộ phận nào của cây nhàu được dùng làm thuốc chữa bệnh? Cách chế biến và sử dụng như thế nào? Trả lời: Cây nhàu còn được gọi là nhàu núi, nhàu rừng, nhàu lớn, tên khoa học là Morinda citrifolia L., thuộc họ cà phê (Rubiaceae).
Nhàu là loại cây nhỡ hay gỗ, thân nhẵn. Lá hình bầu dục rộng, có góc ở gốc, mũi nhọn ngắn, nhọn hoặc tù ở chóp, dài 12-30cm, rộng 6-15cm, bóng láng, dạng màng. Hoa trắng, hợp thành đầu, đường kính 2-4cm. Quả nạc, gồm nhiều quả mọng nhỏ, màu vàng lục nhạt, bóng, dính với nhau, chứa mỗi cái 2 hạch có hạt. Hạt có phôi nhũ cứng.

Theo các nhà nghiên cứu, nhàu là loài của châu Á nhiệt đới và châu Đại Dương, có phân phối ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam . Thường mọc hoang ở nhiều nơi hoặc được trồng để làm thuốc.
Các bộ phận của cây nhàu được dùng làm thuốc là rễ, quả, lá và vỏ cây. Trong đó, rễ nhàu thường được sử dụng nhiều hơn cả. Người ta đào một phần rễ của cây nhàu, rửa sạch đất cát, thái lát mỏng, phơi hoặc sấy khô để làm thuốc. Các bộ phận khác thường được dùng tươi. Thu hái quanh năm (lá tốt nhất vào mùa xuân, quả vào mùa hạ). Phân tích trong rễ nhàu có chứa glucosid anthraquinonic gọi là moridin, có tinh thể màu vàng cam tan trong nước sôi. Ngoài ra còn có các chất moridon, moridadiol, acid rubichloric, soranjidiol, alizarinmethyl ether và rubiadin 1-methyl ether. Lá nhàu cũng có chứa chất moridin.
Theo Đông y, rễ nhàu có tác dụng nhuận trường, lợi tiểu, làm êm dịu thần kinh, hạ huyết áp. Thường dùng chữa cao huyết áp, nhức mỏi tay chân do phong thấp, đau lưng. Ngày dùng 20-40g rễ khô sắc uống. Có thể nấu thành cao 1:3, hoặc sao vàng rồi ngâm rượu.
Quả nhàu có tác dụng nhuận trường, lợi tiểu, kích thích tiêu hóa, trừ thấp nhiệt, điều kinh. Thường dùng để trợ tiêu hóa, chống táo bón, điều hòa kinh nguyệt, chữa bạch đới, băng huyết, phụ trợ chữa đái tháo đường, cao huyết áp. Ngoài ra còn chữa đau gân, ho cảm, lỵ. Người ta dùng quả nhàu chín chấm muối để ăn hoặc nướng chín để ăn. Quả nhàu non thái lát mỏng ngâm rượu, uống chữa phong thấp, đau lưng.

Quả nhàu chín còn được ướp đường để lấy nước cốt. Cách làm như sau: quả nhàu 1kg, đường cát trắng 300g. Cho quả nhàu đã rửa thật sạch vào lọ thủy tinh, ủ thật chín, sau đó trôn đều với đường cát rồi đậy kín, để lâu khoảng 3 tuần. Lấy ra tán nhuyễn trên rây để lọc lấy nước cốt, đựng trong lọ sạch, bảo quản cẩn thận để dùng dần. Nếu bảo quản ở tủ lạnh càng tốt, phòng được nấm mốc làm hỏng nước thuốc. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 muỗng (thìa) canh, trước bữa ăn.
Quả nhàu non (hoặc rễ nhàu) 600g, thái lát mỏng, phơi hoặc sấy khô, ngâm với 1 lít rượu tốt, sau 2-3 tuần là dùng được. Ngày uống 30-50ml trước bữa ăn. Chữa phong thấp, đau lưng, nhức mỏi tay chân.
Lá nhàu có tác dụng làm tăng lực, hạ sốt, làm êm dịu và điều kinh. Thường dùng chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt, nấu canh để ăn bổ dưỡng. Dùng ngoài, rửa lá thật sạch, giã nát đắp giúp vết thương mau lành, vết loét, làm mau lên da non. Hoặc lấy dịch lá thấm vào vải gạc đắp chữa viêm khớp đau nhức. Ngày dùng 12-20g sắc uống. Dùng ngoài không kể liều lượng.
Vỏ cây nhàu có tác dụng trợ tiêu hóa, bổ khí huyết cho sản phụ. Liều dùng 8-12g/ngày, sắc uống

GỪNG – vị thuốc đa năng của mỗi gia đình
Nên thường xuyên dự trữ gừng trong gia đình. Khi bị cảm cúm với triệu chứng đau đầu phát sốt, sợ lạnh, không ra mồ hôi, hơi nôn, có thể dùng gừng tươi 15 g, tỏi 6 nhánh sắc lấy nước, cho chút đường uống lúc còn nóng, sau đó nằm đắp chăn kín. Mỗi ngày làm một lần.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, gừng có tác dụng chống lão hóa, phòng chống ung thư và phòng sỏi mật.
Theo Đông y, gừng tươi có tính cay, hơi ôn, có tác dụng làm ra mồ hôi, tán hàn, ôn trung, tiêu đờm, làm hết nôn, hành thủy, giải độc; dùng chữa ngoại cảm, nôn mửa, bụng đầy, ho nhiều đờm, giải độc cua cá. Gừng khô đã bào chế có vị cay, đắng, tính đại nhiệt, có tác dụng ôn trung, tán hàn, thông mạch, chữa thổ tả, đau bụng, chân tay lạnh, mạch nhỏ, phong, hàn. Dân gian thường dùng gừng chữa kém ăn, ăn uống không tiêu, nôn mửa, đi ngoài lỏng, cảm mạo phong hàn, ho mất tiếng…
Một số bài thuốc có gừng:
- Cảm sốt, sợ rét, không mồ hôi: Dùng gừng tươi 3 lát, củ cải 1 củ, rễ rau cải trắng 3 cái, nước 3 bát, sắc còn 1,5 bát. Uống 2 lần lúc nóng ấm. Nằm đắp chăn cho ra mồ hôi.
- Cảm lạnh, sợ rét, đau mỏi, không mồ hôi: Dùng gừng tươi 10 g, lá chè 6 g, lá tía tô 10 g, lá kinh giới 10 g, đường đỏ 30 g. Cho nước vừa đủ, đun sôi 20 phút rồi cho đường đỏ vào, hòa tan. Uống khi nước nóng ấm, ngày 2 lần.
- Người già bị hen suyễn: Gừng tươi 15 g, trứng gà 1 quả. Gừng thái nhỏ, đập trứng vào đánh đều, xào chín, ăn khi nóng. Hoặc: Dùng gừng tươi 10 g, xuyên bối mẫu, trần bì, ngũ vị tử, bắc tế tân mỗi thứ 3 g, mật ong 16 g, nước cam 90 ml; cho tất cả vào bát, trộn đều, hấp cách thủy cho chín. Chia ăn 3 lần trong ngày.
- Viêm phế quản mạn tính: Gừng tươi 50 g, rễ cây chè 100 g, mật ong, nước vừa đủ. Sắc gừng, rễ chè cho sôi độ 10-15 phút, rót nước ra, cho mật ong vào khuấy đều, bỏ vào lọ, dùng dần. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 g.
- Tiểu đường: Gừng khô 50 g, mật cá diếc 3 cái. Gừng sao, tán nhỏ, cho mật cá vào trộn, vê thành viên bằng hạt đậu xanh. Ngày uống 5-6 viên. Hoặc: Gừng tươi 5 g, chè xanh 6 g, nước 500 ml. Đun cạn còn 350 ml, cho muối ăn 4 g vào khuấy đều. Uống hết thuốc trong ngày.
- Tứ chi tê dại: Gừng tươi 60 g, hành 120 g, giấm 120 g. Tất cả cho vào nồi đun sôi, xông tay chân tê, ngày 1 lần.
- Nấc liên tục không dứt: Gừng tươi 30 g, mật ong 30 g. Giã gừng vắt lấy nước, cho mật ong vào, trộn đều, cho thêm tí nước ấm, uống từ từ, nín hơi mà uống.

ĐẸP MÀ KHÔNG TỐN TIỀN
- Đu đủ giúp giảm nếp nhăn quanh mắt. Bạn có thể sử dụng quả đu đủ như một loại mỹ phẩm. Nó rất giàu vitamin A, C và một loại men được sử dụng như hoạt chất thanh tẩy da nhẹ. Hãy nghiền đu đủ và thoa quanh mắt để xóa đi những vết chân chim. Riêng phần vỏ đu đủ xát lên mặt có thể lấy đi những tế bào da chết rất hiệu quả.
Châu Á nổi tiếng là quê hương của các loại thảo dược quý đã được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp mỹ phẩm. Tận dụng những gì có sẵn trong tự nhiên, bạn có thể tự chăm sóc sắc đẹp ngay tại nhà.
- Lá bạc hà
Loài thực vật này chứa chất khử trùng, kháng khuẩn. Hãy rửa sạch lá, vò nhẹ và ngâm vào cốc nước sôi rồi dùng như dung dịch thanh tẩy da. Bạn cũng có thể hòa với dầu dưỡng tóc và thoa lên da đầu để chống gàu và kích thích mọc tóc.
- Lá và hoa dâm bụt
Chiết xuất của lá dâm bụt được sử dụng nhiều trong các loại dầu gội đầu bởi khả năng tẩy rửa cao. Khi bị nghiền và đun cùng với một chút nước, lá dâm bụt sẽ cô đặc lại giống như sáp và có màu nâu đen. Bạn có thể sử dụng chất đặc quánh này để thanh tẩy làn da. Chiết xuất từ hoa dâm bụt cũng có mặt trong nhiều sản phẩm kem dưỡng giúp làm mềm da.
- Củ gừng
Củ gừng nổi tiếng là bài thuốc chữa đau bụng, trị cảm và tăng cường “sức bền” cho nam giới. Gừng có thể được nghiền nát và xát vào cơ thể, giúp giảm đau nhức cơ bắp và tăng lượng tuần hoàn máu.
- Lá trầu không
Chứa những thành phần giúp làm sạch da khi pha vào với nước tắm. Lá trầu không có tác dụng khử trùng rất tốt, giúp cho cơ thể trở nên mát mẻ, sảng khoái.
- Củ nghệ
Củ nghệ được sử dụng như chất làm se và thanh tẩy. Bạn có thể nghiền nát nghệ và xát lên da để lấy đi những tế bào da chết.
- Hoa đại
Là một loài hoa phổ biến ở đất nước nhiệt đới châu Á. Mùi hương quyến rũ của hoa đại xuất hiện ở những nơi linh thiêng và được coi là biểu tượng tôn giáo. Với các chuyên gia thẩm mỹ thì mùi thơm ấy giúp cho đầu óc trở nên thư thái. Bạn hãy thả một vài vốc hoa vào bồn tắm và mùi thơm của hoa đại sẽ giảm stress cho cơ thể.
- Lá lô hội
Từ xa xưa, lá lô hội đã nổi tiếng là một loại thảo dược thần bí trong nghệ thuật làm đẹp. Với những người bị mụn, sẹo hay cháy nắng, có thể cắt lá lô hội và bôi chất nhờn tiết ra từ lá lên da. Chiết xuất từ lá lô hội còn được sử dụng trong thuốc uống chống tiêu chảy.
- Xơ mướp
Xơ mướp giúp lấy đi những tế bào da chết tốt hơn rất nhiều so với những loại mút xốp hiện bày bán ở các siêu thị bởi khi sử dụng xơ mướp, làn da của bạn vẫn giữ được vẻ mềm mại, tươi mát. Tại các mỹ viện ở Thái Lan, người ta thường hòa muối cùng một chút tinh dầu và lấy xơ mướp xát lên cơ thể để lấy đi những tế bào da chết.
- Dưa chuột
Nhiều hãng mỹ phẩm hiện nay đã sử dụng chiết xuất từ dưa chuột để làm mát và tái tạo làn da, đặc biệt đối với da dầu. Nước dưa chuột được coi là loại nước tonic tuyệt hảo và giúp se lỗ chân lông. Đắp miếng dưa chuột lên mắt sẽ giúp mắt khỏi mệt mỏi, sưng húp và dưỡng ẩm cho mắt. Nếu bạn bị cháy da khi tắm nắng, hãy nghiền nát dưa chuột và đắp vào chỗ bỏng rát. Hiệu quả sẽ vô cùng bất ngờ!
- Quả bơ
Chiết xuất từ quả bơ được sử dụng nhiều trong các sản phẩm làm đẹp bởi bơ rất giàu vitamin, nhất là vitamin E, giúp nuôi dưỡng làn da, đặc biệt là da khô. Ngoài ra, bơ còn có tác dụng làm cho mái tóc trở nên óng mượt.
CỦ NGHỆ VỚI SỨC KHỎE VÀ NHAN SẮC
- Ngày xưa, khi thấy chồng con bị ho, các bà thường mang đến một đĩa bún xào lòng heo với nghệ vàng ngậy và  hẹ xanh thẫm. Đó chính là bài thuốc dân gian trị ho quen thuộc. Một lát nghệ còn giúp cho vét sẹo mờ dần, trả lại làn da trắng mịn cho các bà, các cô…

Củ nghệ được sử dụng như là chất làm se và thanh tẩy rất tốt. Bạn có thể nghiền nát nghệ và xát lên da để lấy đi những tế bào da chết.
Trong ẩm thực
Không người phụ nữ nào không biết cách xử dụng hành, tiêu, ớt, tỏi, gừng, nghệ… Bánh khoái, bánh xèo, bò kho, gà xào xả ớt… đều có sự hiện diện của bột nghệ. Cà ri có hương vị đậm đà do sự phối hợp của tinh dầu, chất cay, chất béo và màu sắc đặc trưng của cà ri là từ chất màu curcumin trong nghệ tạo nên.
Trong y học
Nghệ có tên khoa học là Curcuma longa L, thuộc họ gừng, có chứa chất màu curcumin là sự phối hợp của 3 chất curcumin 1, 2, 3 cùng với tinh dầu (3-5%) tạo nên màu vàng sáng nhạt, mùi thơm dễ chịu với các dược tính như:
Kích thích sự bài tiết mật của tế bào gan, thông mật nhờ làm co thắt túi mật. Tăng khả năng giải độc gan và làm giảm lượng urobilin trong nước tiểu. Tinh dầu nghệ có đặc tính khử mùi hôi, đồng thời có tính kháng viêm rất hữu hiệu, bảo vệ niêm mạc miệng, lưỡi, dạ dày. Tác dụng kháng khuẩn, kháng nấm, làm giảm cholesterol – huyết.
Trong dân gian, nghệ đã được tin dùng như phương thuốc hữu hiệu để trị tụ huyết, máu cam, làm cao dán nhọt, thoa chống vết thương tụ máu, làm mau lành sẹo, trị viêm gan, vàng da, đau dạ dày, ghẻ lở, mụn nhọt. Trong Đông y, thân rễ nghệ gọi là khương hoàng, rễ con gọi là uất kim thường dùng trị phong hàn, chậm có kinh, băng huyết, trị đau bao tử do thiếu axit, trị loét dạ dày…
Những khám phá mới trong trị bệnh
Các nhà khoa học nghiên cứu và các định được các ứng dụng đa dạng của nghệ như sau:
Tác dụng hưng phấn và co bóp tử cung. Tác dụng chống viêm loét dạ dày do tác dụng tăng bài tiết chất nhày mucin. Tác dụng lợi mật, thông mật, kích thích tế bào gan và co bóp túi mật. Làm giảm hàm lượng cholesterol trong máu. Tác dụng kháng sinh cả trên vi khuẩn gram (+) lẫn gram (-) và tác dụng kháng nấm ngoài da. Ngăn chặn sự phát triển vi trùng lao nhờ làm rối loạn chuyển khoá men của chúng. Tác dụng kháng viêm tương đương hydrocortison và phenylbutazon. Thông tin gần đây cho thấy có thể làm giảm tỷ lệ mắc ung thư như ung thư vú, tuyến tiền liệt, phổi và ruột kết nếu chế độ dinh dưỡng có nhiều chất nghệ. Tác dụng chốn khối u có được nhờ đặc tính chống oxy hoá của curcumin.
Thuốc bào chế từ củ nghệ
Kết hợp cao tỏi – cao nghệ Ngày nay, nghệ được sử dụng trong Tây y dưới các dạng dược phẩm trị sỏi  mật, vàng da, táo bón kinh niên, rối loạn tiêu hoá. Thuốc bào chế từ dược thảo phối hợp cao tỏi và cao nghệ tạo nên những tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, điều hoà huyết áp, đường huyết đồng thời phòng chống nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim và xơ vữa động mạch.
Kết hợp nghệ – mật ong – cao ban long – canxi
Một loại thuốc khác rất quen thuộc từ lâu là kết hợp nghệ với mật ong dùng chữa trị một số bệnh gan mật, dạ dày, ruột và làm thuốc bồi bổ. Sự kết hợp nghệ – mật ong – cao ban long – canxi gluconat cung cấp nhiều axit amin cần thiết cho cơ thể để bồi dưỡng, mật ong vị ngọt trị suy nhược, tì vị hư, đau loét dạ dày, táo bón, cùng với canxi cần cho phụ nữ có thai, cho con bú, người bị lao, trẻ em chậm lớn.
Dùng trong mỹ phẩm
Dùng củ nghệ rửa sạch, giã nhỏ lấy nước bôi lên vết thương đã rửa sạch để mau liền sẹo, sẹo không bị thâm. Trên thị trường hiện nay nghệ thường được thêm vào mỹ phẩm kết hợp với vitamin A, E để thành kem nghệ, sữa rửa mặt hạt nghệ… Ngoài ra, kết hợp nghệ và dầu vừng cũng được dùng điều trị nhanh khi  mới bị bỏng nhẹ, giúp làm giảm phù nề, xung huyết quanh vết bỏng, giúp vết bỏng không lan rộng, chóng khô và liền sẹo. Nếu bôi thuốc sớm trong vòng 24 giờ sau khi bị bỏng, sẹo sẽ liền nhanh.

Củ nghệ được chế biến thành chất màu dùng trong thực – dược phẩm
Trong công nghiệp màu thực phẩm, dược phẩm
Chất màu thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong hai nền công nghiệp lớn: công nghiệp dược phẩm và công nghiệp thực phẩm. Một trong những nguyên nhân thường gây ra ngộ độc thực phẩm là sử dụng chất màu công nghiệp tạo nên những màu sắc loè loẹt và rẻ tiền để nhuộm thức ăn. Vì thế, việc sử dụng những chất màu thiên nhiên, không độc đáp ứng tiêu chuẩn y tế trong việc nhuộm màu thực phẩm – dược phẩm đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng.
Màu vàng của nghệ là chất màu thiên nhiên được Dược điển công nhận với mã số E.100 để nhuộm màu dược phẩm thay thế dẫn những chất màu tổng hợp như tartrazine E.102.
Chỉ riêng việc khai thác nghệ để chế biến thành chất màu dùng trong thực – dược phẩm cũng đủ mở ra một hướng đi khả thi với nguồn tài nguyên nghệ phong phú của Việt Nam. Việc tận dụng nghệ, một nguồn dược liệu rẻ tiền, phong phú trong nước và áp dụng kỹ thuật bào chế Tây y hiện đại sẽ tạo ra nguồn dược, mỹ phẩm nội địa, vừa kế thừa phát huy tiềm năng y học cổ truyền, góp phần bảo vệ hữu hiệu sức khoẻ cho nhân dân.

TỎI
Theo y học cổ truyền, tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc, đi vào 2 kinh can và vị. Tỏi có tác dụng thanh nhiệt, giải độc (lấy độc trị độc), sát trùng, chữa băng đới, trùng tích, huyết lỵ, tẩy uế, thông khiếu, tiêu nhọt và hạch ở phổi, tiêu đờm, đầy chướng, đại tiểu tiện khó khăn, tả, lỵ v.v…
Ðông y cũng khuyên không dùng tỏi trong chứng âm hư, nội nhiệt, thai sản, đau mắt, mũi, răng, cổ họng, lưỡi…
Tỏi còn là vị thuốc chống ung thư hiệu nghiệm. Tỏi được thái mỏng thành từng lát để trong không khí khoảng 15 phút sẽ sinh ra chất “đại toán tố” là chất chống ung thư. Nếu tách tỏi thành nhánh nhai ăn ngay hoặc đem đun nóng lên thì không còn tác dụng gì nữa.
Khoa học ngày nay đã nghiên cứu: tỏi thuộc họ hành tỏi, bộ phận được dùng là củ để ăn và làm thuốc.
Thành phần hóa học và tác dụng:
Trong tỏi có ít Iode (sát trùng) và tinh dầu (100kg tỏi cho 60 đến 100g tinh dầu).
Chất kháng sinh trong tỏi là alicin (C6H10OS2). Ðó là một hợp chất sulfua diệt khuẩn rất mạnh đối với staphylococus (tụ cầu khuẩn), thương hàn, phó thương hàn, lỵ, tả, bạch hầu…
Alicin kết hợp với một axit amin có gốc SH thì sẽ cho xystein có tác dụng ức chế sự sinh sản của vi khuẩn.
Nước tỏi 5% ức chế hoạt động của amíp (loại ký sinh trùng thường gây bệnh kiết lỵ và gây áp – xe gan).
Lỵ a míp gặp nước tỏi sẽ co tròn lại và không sinh sản nữa. Ở Trung Quốc tỏi chữa khỏi 80% lỵ amíp. Chữa lỵ trực trùng cũng đạt kết quả tương tự. So với sulfaguanidine (thuốc đặc trị lỵ trực trùng) thì kết quả chữa bằng tỏi cũng tương đương. Trong ống nghiệm, nước tỏi 3% diệt được cả enterocoli.
Pha chế và liều dùng:
Ðiều trị lỵ amíp và lỵ trực trùng: giã nát tỏi cho vào nước đun sôi để nguội với tỷ lệ 5% và 10%, ngâm trong vòng 2 giờ rồi đem lọc qua gạc, thụt trong 2 ngày đầu với dung dịch 5% (100ml), sau đó dùng dung dịch 10%, ngày thụt 1 lần, kết hợp uống 6g tỏi chia làm 3 lần trong ngày. Ðợt điều trị kéo dài 5-7 ngày. Tuy nhiên tỏi cũng làm ta phiền toái: ăn tỏi bị hôi miệng, thụt tỏi hơi rát hậu môn. Cách khắc phục: nhai một nhúm trà rồi nhổ đi sẽ hết hôi miệng. Cho ngâm nước ấm sau thụt sẽ hết rát hậu môn.
Mùa hè đã đến, các bệnh viêm đường ruột như thương hàn, kiết lỵ… bà con bị mắc nhiều nhất là ở nông thôn, những vùng sâu vùng xa nên tỏi là một vị thuốc dễ tìm và dễ dùng có thể giúp bà con khỏi bệnh.

CÂY MÍA
Cây mía là nguồn cung cấp nguyên liệu làm đường, mật lại có thể dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt. Nước mía có vị ngọt mát, tính bình có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, giải độc, tiêu đờm, chống nôn mửa, chữa sốt, tiểu tiện nước đỏ và rất bổ dưỡng.
Một số bài thuốc từ cây mía:
- Chữa nứt nẻ chân: Lấy ngọn mía và bèo cái, mỗi thứ khoảng 100g giã nát, thêm vào một bát nước tiểu (trẻ em càng tốt) nấu sôi. Ðể nước ấm rồi ngâm chỗ nứt nẻ vào khoảng 30 phút.
- Chữa chín mé: Lấy lõi trắng ở ngọn cây mía giã nát trộn với lòng trắng trứng gà rồi đắp và băng lại. – Chữa ngộ độc: Thân mía 80g, thục địa, ý dĩ, cam thảo bắc mỗi thứ 30g, lá tre, kim ngân, rễ cỏ tranh, rễ ngưu tất mỗi thứ 20g. Cho vào 1 lít nước, nấu sôi rồi đun lửa nhỏ 15 – 20 phút, uống nóng hoặc để nguội tùy theo sở thích mỗi người.
Cũng có thể chữa ngộ độc bằng cách lấy thân cây mía giã nát cùng với rễ cỏ tranh, ép lấy nước đun sôi trộn với nước dừa mà uống.
- Chữa khí hư: Lá cây mía tím 30g, lá huyết dụ 30g, hoa mò đỏ 20g, rễ mò trắng 80g. Tất cả các vị trên thái nhỏ, sao vàng rồi sắc lên uống hàng ngày.
- Làm thuốc an thai: Mầm mía 30g, củ gai 30g, ích mẫu 20g, củ gấu 80g, sa nhân 2g. Tất cả các vị thái nhỏ, phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml uống trong ngày, chia làm 2 lần. Ngoài ra, mía còn có những công dụng khác: nước mía nấu với hạt kê ăn trong ngày làm nhuận tim phổi. Chữa ho do hư nhiệt, uống nhiều nước mía có khả năng ngăn chặn cơn sốt…
Trong các loại mía thì chỉ có mía đỏ, mía tím, mía bầu, mía đường chèo là để ăn và làm thuốc. Lưu ý: Trong bữa ăn có cua thì không nên ăn cùng với mật mía, dễ sinh độc.

QUẢ DÂU
Từ xa xưa người ta đã biết dùng các loại hoa và trái cây để làm thức uống hàng ngày như: cam, quất, chanh, hoa hòe, nụ vối, hạt é… Mỗi loại đều cho một hương vị riêng, trong đó tang thầm (quả dâu chín) được cổ nhân dùng dưới dạng trà gọi là trà tang thầm và cũng là bài thuốc độc đáo. Tang thầm
Tên khoa học là Fructus Mori Albae hay còn gọi là tang thực, tang táo, tang quả, ô thầm, hắc thầm… là tên gọi dân dã của quả dâu chín.
Tang thầm thường dùng để ăn sống, ngâm rượu, làm mứt hoặc ngâm với đường kính chế biến nước giải khát dùng cho cả mùa nóng. Ngoài ra tang thầm còn có cách chế biến rất đơn giản mà hiệu quả, đó là sử dụng dưới dạng trà, cổ nhân gọi là trà tang thầm.
Cách chế biến
Nên chọn những quả dâu đã chín, lành lặn, loại bỏ các tạp chất, dùng nước sạch rửa thật kỹ (chú ý nhẹ tay để tránh dập nát), đem phơi hoặc sấy thật khô rồi đựng trong lọ kín (tốt nhất là lọ sành) để dùng dần. Mỗi ngày 2 lần, mỗi lần lấy 10-15g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Trên thực tế, ngoài tang thầm, người ta còn phối hợp thêm với một số vị thuốc khác nhằm nâng cao và mở rộng hiệu quả phòng chống bệnh tật của loại trà này. Công dụng
Tang thầm, theo Dược học cổ truyền có vị chua ngọt, tính lạnh, có công dụng tư âm dưỡng huyết, bổ can ích thận, sinh tân nhuận tràng, ô phát (làm đen râu tóc) và trừ phong thấp, thường được dùng để chữa các chứng bệnh do can thận bất túc gây nên như đầu choáng mắt hoa, lưng đau gối mỏi, tai ù điếc, râu tóc bạc sớm, mất ngủ hay mê, tiêu khát (đái đường), táo bón, các khớp vận động khó khăn… Các y thư cổ như: Bản thảo cương mục, Bản thảo thập di, Bản thảo kinh sơ, Bản thảo cầu chân, Tân tu bản thảo, Trấn nam bản thảo, Tùy tức cư ẩm thực phổ… đều đề cập đến tang thầm với những kiến giải khá sâu sắc. Ví như, sách Bản thảo kinh sơ đã viết: “Tang thầm, cam hàn ích huyết nhi trừ nhiệt, vi lương huyết bổ huyết ích âm chi dược. Tiêu khát do nội nhiệt, tân dịch bất túc, sinh tân cố chỉ khát. Ngũ tạng giai thuộc âm, ích âm cố lợi ngũ tạng. Âm bất túc tắc quan tiết chi huyết khí bất thông, huyết sinh tâm mãn, âm khí trường thịnh, tắc bất cơ nhi huyết khí tự thông hĩ. Nhiệt thoái âm sinh, tắc can tâm vô hỏa, cố hồn an nhi thần tự thanh ninh, thần thanh tắc thông minh nội phát, âm phục tắc biến bạch bất lão” (quả dâu chín vị ngọt, tính hàn, là thứ thuốc mát huyết, bổ huyết dưỡng âm mà trừ được nhiệt. Chứng tiêu khát sinh ra do dịch thiếu nên sinh nội nhiệt, (quả dâu) sinh dịch mới mà chữa được. Năm tạng đều thuộc âm, dưỡng âm thì lợi cho tạng. Âm thiếu thì các khớp khí huyết không thông, (quả dâu) bổ sung đầy đủ huyết dịch thì âm khí trường thịnh mà khí huyết tự thông. Nhiệt giải âm đủ thì hỏa trong can và tâm cũng hết, tinh thần trở nên thanh sáng an bình, trí tuệ minh mẫn, âm khí hồi phục thì râu tóc đen lại mà trường thọ. Sách Bản thảo cương mục viết: “Tang thầm… cửu phục bất cơ, an hồn trấn thần, lệnh nhân thông minh” (quả dâu chín… dùng lâu an thần trấn tĩnh, làm cho con người trở nên thông minh). Sách Trấn nam bản thảo cho rằng tang thầm “ích thận tạng nhi cố tinh, cửu phục hắc phát minh mục” (bổ thận, làm cho tinh khí vững chắc, dùng lâu có thể đen tóc và sáng mắt)… Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, trong thành phần quả dâu có chứa các loại đường, acid tannic, acid malic, các vitamin B1, B2, A, C và caroten, các acid béo như acid linoleic, acid oleic, acid palmitic, acid stearic… Dịch chiết quả dâu có tác dụng: (1) Tăng cường công năng miễn dịch, kể cả miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể; (2) Thúc đẩy cơ năng tạo huyết, làm cho tế bào lympho nhanh chuyển hóa và thanh thục; (3) Làm giảm hoạt tính của men Na+, K+ – Atpase ở màng hồng cầu, từ đó ảnh hưởng đến quá trình sản nhiệt của cơ thể. Một số công thức phối hợp
Để nâng cao hiệu quả và mở rộng phạm vi trị bệnh của trà tang thầm, người xưa còn hay phối hợp thêm với một số vị thuốc khác theo các công thức cụ thể như:
1. Tang thầm 10g, ngũ vị tử 10g. Hãm uống để trị chứng dễ vã mồ hôi ban ngày (tự hãn) và ra mồ hôi trộm (đạo hãn);
2. Tang thầm 15g, thục địa 15g và bạch thược 15g hoặc tang thầm 15g và toan táo nhân 12g. Hãm uống để chữa mất ngủ;
3. Tang thầm 15g, cát căn 15g, hoàng cầm 8g, cúc hoa 8g, tiểu kế 8g. Hãm uống để chữa cao huyết áp;
4. Tang thầm 10g, bạch truật 6g. Hãm uống để chữa chứng chậm tiêu;
5. Tang thầm 15g, kỷ tử 15g, đại táo 15g. Hãm uống để chữa chứng đầu choáng mắt hoa;
6. Tang thầm 15g, Long nhãn 15g hay tang thầm 15g, thỏ ty tử 12g, nữ trinh tử 12g, kỷ tử 12g, thục địa 8g, tiên linh tỳ 8g, phá cố chỉ 8g. Hãm uống để chữa thiếu máu;
7. Tang thầm 15g, hà thủ ô 15g, nữ trinh tử 15g và cỏ nhọ nồi 10g. Hãm uống để chữa chứng râu tóc bạc sớm;
8. Tang thầm 15g, nhục dung 15g, vừng đen 15g và chỉ xác sao 8g. Hãm uống để chữa táo bón;
9. Tang thầm 15g, hồng hoa 3g, kê huyết đằng 12g. Hãm uống để trị chứng bế kinh;
10. Tang thầm 30g, địa cốt bì 15g và đường phèn 15g. Hãm uống để trị chứng ho khan ít đờm và lao phổi… Điều cần lưu ý là, vì tang thầm tính lạnh và có tác dụng nhuận tràng nên những người hay bị rối loạn tiêu hóa, đi lỏng do tỳ vị hư yếu và những người bị cảm mạo, ho nhiều do phong hàn không nên dùng trà tang thầm. Khi pha loại trà này tuyệt đối không dùng ấm chén bằng kim loại.
CÂY SEN
Một số bộ phận của cây sen dùng làm thuốc
- Hạt sen (còn gọi là Liên nhục, Liên tử) vị ngọt tính bình, có tác dụng bổ tỳ dưỡng tâm cố tinh sáp trường. Hạt sen là một vị thuốc quý vừa có tác dụng bổ dưỡng lại an thần, được dùng trong nhiều đơn thuốc. Ðặc biệt hạt sen còn dùng chữa trị các chứng tiêu chảy kéo dài, suy dinh dưỡng. Hạt sen cũng là một loại thực phẩm quý, thường dùng nấu chè, làm mứt, chế biến thành nhiều món ăn ngon. Xin nêu một vài đơn thuốc có hạt sen: 1. Chữa di tinh, hoạt tinh, di niệu: bài Cố tinh hoàn Liên nhục 2kg. Liên tu 1kg. Hoài sơn 2kg. Sừng nai 1kg. Khiếm thực 0,5kg. Kim anh 0,5kg. Các vị tán thành bột, riêng kim anh nấu cao, làm thành viên hoàn, ngày uống 10-20g. 2. Chữa tiêu chảy mạn tính Liên nhục 12g. Ðảng sâm 12g. Hoàng liên 5g. Sắc uống hoặc tán bột uống mỗi ngày 10g. 3. Chữa mất ngủ do tâm hỏa vượng: bài Táo nhân thang Táo nhân 10g. Viễn trí 10g. Liên tử 10g. Phục thần 10g. Phục linh 10g. Hoàng kỳ 10g. Ðảng sâm 10g. Trần bì 5g. Cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang. – Tâm sen (còn gọi là Liên tử tâm): Vị đắng tính hàn, có tác dụng thanh tâm trừ phiền, chỉ huyết sáp tinh. Dùng an thần, trị sốt cao mê sảng, hồi hộp tim đập nhanh, huyết áp cao. Thường dùng phối hợp với một số vị thuốc khác như cúc hoa, hoa hòe, hạt muồng… pha trà uống để dễ ngủ, hạ áp. Liều dùng 1,5-3g. – Tua sen (Liên tu): Vị ngọt sáp, tính bình, tác dụng thanh tâm cố thận, sáp tinh chỉ huyết. Dùng riêng hoặc phối hợp với hạt sen. Liều thường dùng 1,5-5g. – Gương sen (Liên phòng): Vị đắng sáp, tính ôn, có tác dụng tiêu ứ chỉ huyết, dùng trị các chứng băng lậu ra máu, tiểu ra máu… Thường dùng để cầm máu bằng cách đốt thành than rồi phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng 5-10g. – Lá sen (Hà diệp, Ngẫu diệp): Vị đắng sáp, tính bình, tác dụng thanh thử, thăng dương, chỉ huyết. Dùng trị cảm nắng, say nắng, xuất huyết do sốt cao. Chữa các chứng cảm sốt mùa hè rất tốt. Ðã ứng dụng nhiều năm chữa sốt xuất huyết thể nhẹ. + Chữa sốt cao nôn ra máu, chảy máu cam: bài Tứ sinh thang Sinh địa tươi 24g. Trắc bá diệp tươi 12g. Lá sen tươi 12g. Ngải cứu tươi 8g. Nấu lấy nước uống nhiều lần trong ngày. + Trị béo phì, hạ cholesterol máu cao: Ðây là một công dụng mới phát hiện của lá sen. Trên thị trường hiện có bán nhiều loại trà giảm béo có lá sen. Có thể tự dùng bằng cách nấu lá sen tươi uống thay nước hàng ngày, mỗi ngày 1 lá. – Ngó sen (Ngẫu tiết): Là một món ăn ngon, ngoài ra còn dùng trị các chứng đại tiện ra máu, tử cung xuất huyết kéo dài, khí hư bạch đới, tiêu chảy kéo dài. Liều dùng 6-12g.
CÂY DÂU

Cây dâu trước kia được nhân dân ở nhiều vùng nước ta trồng rất nhiều để chăn nuôi tằm, lấy tơ dệt vải. Ngoài ra dâu còn được dùng làm thuốc chữa bệnh, chất mỹ phẩm bảo vệ da, trái dâu ngâm rượu làm thức uống khai vị.
Tên khoa học: Morus alba L.
Tên khác: Mạy môn (dân tộc Thổ); Dâu cang (dân tộc Mèo); Tầm tang.
Bộ phận dùng
Sử dụng toàn bộ cây dâu, gồm lá, vỏ, rễ, thân cây và trái dâu.
Dâu có nhiều tác dụng tốt trong việc chữa bệnh, chưa thấy có phản ứng phụ nào, nhất là trong các sản phẩm bảo vệ da.
- Lá dâu gọi là Tang diệp (Folium Mori).
- Vỏ rễ cây dâu gọi là Tang bạch bì (Cortex, Mori radicis).
- Quả dâu gọi là Tang thầm (Fructus Mori).
- Cây mọc ký sinh trên cây dâu gọi là Tang ký sinh (Ramulus loranthi).
- Tổ bọ ngựa trên cây dâu gọi là Tang phiêu tiêu (Ootheca mantidis).
- Sâu dâu: Con sâu nằm trong thân cây dâu, vốn là ấu trùng của một loại xén tóc.
- Cây dâu có thể cao 10-15m nếu không thu hái thường xuyên. Lá mọc so le, hình bầu dục, nguyên hoặc chia 3 thùy, có lá kèm, đầu lá nhọn hoặc hơi tù. Phía cuống hơi tròn hoặc hơi bằng, mép có răng cưa to. Từ cuống lá tỏa ra 3 gân rõ rệt. Hoa đực mọc thành bông, có lá đài, 4 nhị (có khi 3). Hoa cái cũng mọc thành bông hay thành khối hình cầu, có 4 lá đài. Quả mọc trong các lá đài, màu đỏ, sau đen sẫm, ăn được, còn dùng làm thuốc hoặc ngâm rượu để uống, mùi thơm, vị chua ngọt.
Các bài thuốc từ cây dâu:
- Tang bạch bì, tang diệp dùng làm thuốc lợi tiểu trong bệnh thủy thũng, chữa ho lâu ngày, băng huyết, hen phế quản, ho có đờm, sốt, cao huyết áp, giúp sáng mắt. Liều dùng hàng ngày từ 6-18g dưới dạng sắc hay thuốc bột.
- Tang thầm (quả dâu): Bổ thận, chữa mất ngủ, giúp ăn ngon.
- Tang phiêu tiêu: Chữa bệnh đường tiết niệu, di tinh, trẻ đái dầm.
- Sâu dâu: Chữa đau mắt. Liều từ 6-12g, cách uống như trên.
Chữa ho ra máu: Tang bạch bì 600g ngâm nước vo gạo trong 3 đêm, tước nhỏ. Cho vào 250g gạo sao vàng, tán nhỏ, trộn đều. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g, chiêu bằng nước cơm. Ho lâu năm: Lấy vỏ rễ cây dâu trộn thêm vỏ rễ cây chanh, mỗi thứ 10g, sắc uống trong ngày. Chữa động thai, đau bụng: Tang ký sinh 60g, dao (hoặc cao ban long) nướng thơm 20g, ngải diệp 20g, nước 3 bát (600ml) sắc còn 1 bát (200ml). Uống nhiều lần trong ngày.
Tóc không mọc, tóc bạc: Quả dâu ngâm nước, lọc lấy nước xoa vào đầu.
Ðặc biệt đối với rụng tóc: Tang bạch bì (vỏ rễ cây dâu) giã dập nhỏ, đun nước sôi 30 phút, lọc lấy nước gội đầu thường xuyên.
Ngoài ra dâu còn được dùng nhiều trong các loại mỹ phẩm bảo vệ da, như sữa rửa mặt cho phụ nữ, có tác dụng giúp da tươi tắn và mịn màng.

DƯA HẤU

Trước nay, dưa hấu được xem là một trong những loại trái cây hết sức thông dụng của mọi gia đình, đặc biệt khi tiết trời trở nên oi bức, nóng nực. Dưa hấu không những ngon ngọt, dễ ăn mà còn cung cấp cho cơ thể một lượng nước khá lớn, không ít các vitamin và nguyên tố vi lượng quý giá. Hơn nữa, trong y học cổ truyền, cả ruột và vỏ dưa hấu còn được dùng làm thuốc chữa bệnh.
Công dụng của dưa hấu
Giá trị của quả dưa hấu đã được dân gian đúc kết qua câu: “Nhiệt thiên lưỡng khảm qua, dược vật bất dụng qua” (Trời nóng ăn hai quả dưa thì không cần phải uống thuốc) và coi dưa hấu là “Hạ quý thủy quả chi vương” (Vua của trái cây mùa hè). Các y thư cổ như Bản thảo phùng nguyên, Tùy tức cư ẩm thực phổ, Nhật dụng bản thảo… đều cho rằng dưa hấu có công dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát, lợi tiểu tiện và được dùng để chữa nhiều chứng bệnh như mụn nhọt, viêm loét miệng, phù do viêm thận, tiểu đường, cao huyết áp, lỵ, say nắng, say nóng, giải độc rượu… Thậm chí còn coi dưa hấu có tác dụng thanh nhiệt tả hỏa tựa như cổ phương trứ danh Bạch hổ thang.
Cách chế biến điển hình
- Cách 1: Dưa hấu 1.500g, muối ăn lượng vừa đủ. Dưa rửa sạch, bổ đôi, nạo lấy phần ruột rồi gói vào khăn vải sạch, ép lấy nước; Vỏ dưa cạo bỏ vỏ xanh, thái vụn rồi cũng ép lấy nước (nếu có máy ép thì càng tốt); Hòa hai thứ nước lại với nhau, pha thêm chút muối, dùng làm đồ giải khát. Công dụng: Tiêu phiền, giải độc, làm hết khát. Người bị viêm nhiễm, mụn nhọt, cao huyết áp dùng rất hữu ích.
- Cách 2: Dưa hấu 1 quả, chuối tiêu 3 quả, mật ong 100g. Rửa sạch dưa, dùng dao cắt ngang dưới núm một miếng để làm nắp, lấy thìa đánh nhuyễn phần ruột đỏ. Chuối bóc vỏ, thái vụn rồi cho cùng mật ong vào trong lòng quả dưa, tiếp tục đánh nhuyễn, đậy nắp, để vào tủ lạnh chừng 3 giờ là dùng được. Ðây là món giải khát thơm ngon, lại giàu chất dinh dưỡng, có công dụng bồi bổ, nhuận tràng, thông tiện. Theo y học cổ truyền, chuối (hương tiêu) vị ngọt, tính mát, có khả năng dưỡng âm nhuận táo, sinh tân dịch và làm hết khát.
- Cách 3: Dưa hấu 1.500g, mật ong 30g, chanh 100g, rượu hoa quả 50ml. Dưa rửa sạch, dùng máy ép lấy nước rồi vắt chanh và cho mật ong cùng rượu vào quấy đều. Công dụng: Tiêu khát giải thử, sử dụng để giải khát mùa hè rất tốt. Theo y học cổ truyền, chanh vị chua ngọt, tính mát, có công năng sinh tân chỉ khát, thanh nhiệt giải thử, hóa đàm chỉ khái. Dinh dưỡng học cổ truyền thường dùng chanh phối hợp với dưa hấu hoặc nước mía để chế các loại nước giải khát thanh nhiệt trong mùa hè.
- Cách 4: Dưa hấu 500g, mía 200g, đường phèn 20g. Dưa rửa sạch, bỏ vỏ và hạt, thái miếng; Mía róc vỏ, chẻ nhỏ. Hai thứ cho vào máy ép lấy nước, chế thêm đường phèn, uống hàng ngày. Công dụng: Thanh nhiệt lợi niệu, làm khỏe thận, chống nôn và giải độc rượu. Ðây là loại nước giải khát rất tốt và hấp dẫn, vừa thơm ngon vừa ngọt mát. Theo y học cổ truyền, mía vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt trừ phiền, sinh tân chỉ khát, hòa trung nhuận táo, thường được dinh dưỡng học cổ truyền sử dụng cho những bệnh nhân bị các chứng bệnh như say rượu, ho và viêm hầu họng do phế âm hư, nôn và buồn nôn do bệnh lý dạ dày tá tràng, táo bón…
- Cách 5: Vỏ dưa hấu 150g, khổ qua (mướp đắng) 50g, bí đao 50g. Vỏ dưa hấu gọt bỏ vỏ xanh, thái vụn; Khổ qua và bí đao đều gọt vỏ bỏ ruột rồi thái vụn. Tất cả cho vào máy ép lấy nước, có thể cho thêm chút đường phèn, hòa tan rồi dùng làm nước giải khát. Công dụng: Thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát; Dùng làm đồ uống mùa hè rất tốt, đặc biệt với những người bị tiểu đường, mụn nhọt, viêm đường tiết niệu, béo phì… Theo y học cổ truyền, khổ qua vị đắng, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải thử, giải độc minh mục. Nghiên cứu hiện đại đã chứng minh khổ qua có khả năng làm hạ đường huyết ở những bệnh nhân bị tiểu đường. Bí đao vị nhạt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt hóa đàm, trừ phiền chỉ khát, lợi thủy tiêu thũng, giúp cơ thể trở nên thon thả, da dẻ tươi sáng.
- Cách 6: Vỏ dưa hấu 150g, bách hợp 50g, lê 100g, đường phèn 10g. Vỏ dưa gọt bỏ vỏ xanh, bách hợp rửa sạch, lê bỏ vỏ và hạt, tất cả thái vụn, cho vào máy ép lấy nước, hòa đường phèn rồi uống. Công dụng: Thanh nhiệt trừ thử, thanh tâm nhuận phế, giải khát. Theo y học cổ truyền, lê vị ngọt, tính mát, có công năng thanh nhiệt sinh tân, nhuận táo hóa đàm, giải rượu; Thường được dùng cho những người bị sốt cao mất nước, tiểu đường, táo bón, viêm nhiễm đường hô hấp, say rượu… Bách hợp vị ngọt đắng, tính hơi lạnh, có công dụng nhuận phế chỉ khái, thanh tâm an thần; Thường được dùng cho những người bị bệnh đường hô hấp, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể sau khi bị các bệnh có sốt cao kéo dài. – Cách 7: Dưa hấu 6.000g, dứa 500g, đường cát 50g, nước đun sôi để nguội 300ml. Dưa bỏ vỏ và hạt, dứa gọt vỏ thái miếng ngâm với nước muối nhạt trong 1 phút, đem hai thứ ép lấy nước cốt, hòa đường, chế thêm nước rồi làm đồ giải khát. Công dụng: Thanh nhiệt trừ phiền, sinh tân chỉ khát, kích thích tiêu hóa, được dùng làm nước uống lý tưởng trong mùa hè. Theo y học cổ truyền, dứa vị ngọt chua, tính bình, có công năng thanh nhiệt sinh tân, trừ phiền chỉ khát. Loại quả này có mùi thơm và vị ngọt đặc biệt, được dân gian ca tụng là “Bà chúa của các loại hoa quả”.
Dưa hấu tuy có tác dụng thanh nhiệt giải khát lý tưởng và chữa trị được nhiều bệnh tật, nhưng khi dùng cần lưu ý không nên ăn quá nhiều một lần và nhiều lần trong một ngày, đặc biệt là những người tỳ vị vốn đã hư yếu, hay đau bụng đi lỏng và rối loạn tiêu hóa. Ngoài ra, cũng không nên ăn những quả dưa hấu chưa chín, bị hư do để quá lâu và bị giập nát.

CÀ RỐT

Củ cà rốt là phần rễ của cây cà rốt, được trồng ở khắp mọi nơi trên thế giới và luôn sẵn có quanh năm. Cà rốt có thể chế biến bằng nhiều cách, như ăn sống (xay sinh tố, trộn với salad – giấm), nấu chín (nấu xúp với khoai tây, làm mứt, nấu thành si-rô.); là thực phẩm thường dùng trong những món chay hoặc để thay thế cho các loại thực phẩm khó tiêu (thịt, chất béo.). Khi rang khô và nghiền thành bột, nó có thể được dùng để thay thế cà phê. Người ta còn dùng si-rô cà rốt làm chất tạo ngọt. Dầu cà rốt dùng để tạo mùi thơm và chế tạo nước hoa… Cà rốt chứa nhiều carotene (tiền vitamin A)  vì vậy chất này đã được đặt tên từ chữ cà rốt (Carrot). Lượng carotene ăn vào sẽ được cơ thể chuyển hóa dễ dàng thành vitamin A ở ruột và gan. Ngoài ra, cà rốt cũng là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và có nhiều chất bổ khác như các vitamin A, B, C, D, E, acid folic, kali và sợi Pectin (giúp hạ cholesterol máu). Những nguyên tố như calci, đồng, sắt, magnê, măng-gan, phospho, lưu huỳnh có trong cà rốt ở dạng dễ hấp thu vào cơ thể hơn bất kỳ dạng thuốc bổ nào. Trong cà rốt còn có nhiều chất chống oxy hóa quan trọng như: beta carotene, alpha carotene, Phenolic acid, Glutathione… đã được chứng minh là có khả năng làm giảm nguy cơ mắc phải nhiều bệnh như tim mạch, ung thư…
Không giống hầu hết các loại rau quả khác, cà rốt đã nấu chín hay xay ép thành nước đem lại nhiều chất dinh dưỡng hơn so với ăn sống. Nguyên nhân là cà rốt sống có vách tế bào cứng, làm cơ thể chỉ chuyển hóa được < 25% lượng beta carotene thành vitamin A. Tuy nhiên, khi cà rốt đã được nấu chín hay xay ép thì các vách tế bào cellulose dày cứng sẽ bị phá vỡ và phóng thích ra chất dinh dưỡng, giúp cơ thể hấp thu hơn 50% carotene. Dĩ nhiên, nếu nấu quá lâu thì cũng làm giảm thành phần dinh dưỡng và mùi vị của cà rốt. Theo kết quả nghiên cứu của Ðại học Arkansas (Mỹ) đăng trên Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm (8/2000) cho thấy: Cà rốt nấu chín (với một ít dầu mỡ) hay xay ép ra nước sẽ làm tăng nồng độ các chất chống oxy hóa (beta carotene, Phenolic acid) và giúp cơ thể dễ hấp thu hơn 34,3% so với ăn cà rốt sống.
Cà rốt nên dùng loại tươi nhất và đã qua đun nấu (tốt nhất là luộc sơ qua). Ngoài ra cần phải nhai nhuyễn cà rốt khi ăn. Ðể việc hấp thu vitamin A từ thực phẩm được tốt hơn thì nên chế biến cùng với một ít dầu, mỡ.
Nếu ăn hay uống cà rốt quá nhiều hoặc quá lâu có thể gây vàng da ở lòng bàn tay hay bàn chân. Nguyên nhân do tích tụ carotene từ cà rốt vào máu quá nhiều và làm thấm ra ngoài da. Tình trạng này không gây nguy hiểm gì và dễ kiểm soát (khác với ngộ độc vitamin A gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, ói, lồi mắt, khô tróc da…). Chỉ cần ngưng hay giảm ăn cà rốt một thời gian thì sẽ hết vàng da (mỗi ngày ăn 1 củ cà rốt nhỏ bằng nắm tay em bé là đủ nhu cầu vitamin A từ beta carotene). Nhu cầu vitamin A hàng ngày là: 1.500-3.000 IU/ trẻ em, 3.000-5.000 IU/người lớn (1-2,5mg), 5.000-6.000 IU/phụ nữ mang thai, 6.000-8.000IU/phụ nữ cho con bú và carotene là 2-5mg/ngày/người lớn.
Ðể tránh ngộ độc Phospho từ thuốc diệt côn trùng còn sót lại trên cà rốt, trước khi ăn ta nên rửa sạch, gọt vỏ và cắt bỏ 2 đầu.
Loại cà rốt hoang dại Queen Annes Lace có thể gây độc khi ăn. Lá của nó chứa Furocoumarins có thể gây viêm da khi tiếp xúc phải, đặc biệt khi ướt. Hạt có thể gây sẩy thai. Cà rốt đã qua đun nấu có chỉ số đường máu (Glycaemic index) là 49, nghĩa là sau khi ăn sẽ làm nồng độ đường trong máu không tăng quá cao (< 50 là tốt). Nguyên nhân do đường trong cà rốt có cấu tạo phức tạp nên được tiêu hóa chậm hơn, bảo đảm cảm giác no kéo dài hơn. Tuy nhiên bệnh nhân tiểu đường không nên ăn hay chỉ dùng ít nước ép cà rốt.
Thành phần dinh dưỡng
Trong 230g nước ép cà rốt chứa: 70,8 calories; 0,1g chất béo toàn phần; 0g chất béo bão hòa; 0mg cholesterol; 213,3mg natri; 0,6g chất xơ; 1,3g protein; Tối thiểu 27.000IU vitamin A; 20,550IU beta carotene; 6.388 IU alpha carotene; 32,2mg calci; 0,6mg sắt.

RAU MUỐNG

Rau muống có hai loại trắng và tía, mỗi loại có đặc tính riêng. Cả hai loại có thể trồng trên cạn hoặc dưới nước. Theo y học cổ truyền, rau muống còn là một vị thuốc có thể chữa được nhiều căn bệnh.
Công dụng của rau muống theo y học cổ truyền
Theo y học cổ truyền phương Đông, rau muống có vị ngọt, tính hơi lạnh (nấu chín thì giảm lạnh). Vào các kinh can, tâm, đại trường, tiểu trường. Công dụng thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, thông đại tiểu tiện, giải tất cả các chất độc xâm nhập vào cơ thể (nấm độc, sắn độc, cá thịt độc, lá ngón, thạch tín (?), khuẩn độc hoặc do côn trùng, rắn rết cắn. Tên chữ Hán là Úng thái, Không tâm thái, Thông thái… Tên khoa học Ipomoea aquatica Forsk, thuộc họ Khoai lang Convolvulaceae.
Một số cách dùng cụ thể
Rau muống có nhiều tính năng và tác dụng trong việc phòng và chữa bệnh. Xin giới thiệu một số công dụng cụ thể sau:
- Thanh nhiệt giải độc mùa hè: Luộc rau muống đúng cách (nước sôi cho ít muối, để sôi lại mới cho rau vào đảo đều), bấm cuống thấy mềm, vớt ra rổ thưa, rải rời cho ráo nước. Chấm tương hoặc nước mắm chanh ớt ăn với cà pháo muối nén. Nước luộc để nguội vắt chanh. Đây là một món ăn bài thuốc dùng cho bà mẹ có thai thiếu sắt, bà mẹ đang trong thời kỳ cho con bú, người táo bón, tiểu đục, huyết áp cao, nhịp tim nhanh, phòng còi xương cho trẻ (lấy nước luộc rau muống nấu bột).
- Thanh nhiệt, lương huyết, cầm máu, chữa tâm phiền, chảy máu mũi, lưỡi đỏ rêu vàng, khát nước mát, ù tai chóng mặt: Rau muống 150g, Cúc hoa 12g, nước vừa dùng, đun sôi lửa to 20 phút. Lọc lấy nước uống. Có thể cho thêm chút đường.
- Đau đầu trong trường hợp huyết áp cao: Khi luộc rau muống cho thêm ít giấm (tuy nhiên không thể dùng thường xuyên, lâu dài để chữa bệnh cao huyết áp thay thuốc đặc hiệu). Chứng kiết lỵ thường xảy ra vào mùa hè thu, ban đầu bị tiêu chảy do thấp nhiệt, sau chuyển sang kiết lỵ – phân có chất nhầy, màu đỏ trắng, đau thắt bụng. Lấy 400g cọng rau muống tươi, thêm một ít vỏ quýt khô để lâu (trần bì) nấu với nhiều nước, để lửa nhỏ trong vài giờ rồi uống. – Đau dạ dày, nóng ruột, ợ chua, miệng khô đắng: Rau muống 20g, rau má 20g, rau sam 16g, cỏ mực 20g, vỏ quýt khô 12g. Tất cả sao qua, cho vào ấm, đổ 500ml nước, sắc còn 250ml, chia 2 lần uống lúc đói.
- Say sắn, ngộ độc sắn (khoai mì): Dùng một nắm rau muống rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước uống. Hoặc lấy 100g rau muống cắt đoạn, cám gạo tẻ 50g, trộn vào giã nhuyễn, thêm nước cho loãng để uống.
- Giải các chất độc trong thức ăn (ngộ độc thức ăn): do không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và ngộ độc lá ngón, thạch tín (?). Giã rau muống tươi lấy nước cốt uống ngay. Đây là kinh nghiệm dân gian đã được ghi lại trong nhiều sách thuốc. Ngày nay, ta chỉ nên dùng phương pháp này để sơ cứu tức thời nhằm hạn chế độc tính, sau đó phải đưa bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu tích cực vì những chất nói trên rất độc và dễ gây tử vong.
- Các chứng bệnh chảy máu như chảy máu cam, ho nôn ra máu; Tiêu tiểu ra máu, trĩ, lỵ ra máu… Giã rau muống, uống nước cốt hoặc thêm đường hay mật ong.
- Sản phụ khó sinh: Giã rau muống lấy nước cốt hòa ít rượu cho uống.
- Khí hư bạch đới: Rau muống cả rễ 500g; Hoa dâm bụt trắng 250g hầm với thịt heo hoặc thịt gà, ăn thịt uống nước.
- Phù thũng toàn thân do thận, bí tiểu tiện: Rau muống 1 nắm, râu ngô 12g, rễ tranh 12g; Sắc nước uống một lần. Hoặc rau muống 1 bó, rửa sạch, thái nhỏ. Gà vàng (lông vàng, chân vàng, da vàng) một con làm sạch, bỏ lòng, nhồi rau muống vào, hầm nhừ, thêm ít rượu. Khi chín bỏ rau ăn thịt gà. Ăn độ 3 con. Trong sách có dặn cố gắng làm sạch nhưng hạn chế rửa nhiều nước.
- Đái tháo đường: Rau muống 60g, râu ngô 30g. Nấu nước uống (Dùng rau muống tía tốt hơn rau muống trắng).
- Quai bị: Rau muống 200-400g luộc kỹ, ăn cả rau lẫn nước. Có thể pha đường vào nước rau.
- Chứng đẹn trong miệng hoặc lở khóe miệng ở trẻ em: Rau muống tươi 100g, củ hành lá 50g, nấu canh, nêm muối vừa ăn.
- Lở ngứa, loét ngoài da, zona (giời leo): Ngọn rau muống và lá cây vòi voi rửa thật sạch với ít nước muối, giã nhuyễn đắp lên vết thương.
- Rắn giun (loài rắn chỉ bằng con giun đất), ong cắn: Lấy rau muống tía 7 cái (?) giã nhuyễn, vắt nước uống, bã đắp vào vết cắn.
- Rôm sẩy, mẩn ngứa; Sởi, thủy đậu ở trẻ em: Dùng nước nấu rau muống xoa, rửa, tắm.
Có một tài liệu còn đề cập đến công dụng phòng chữa liệt dương của rau muống. Phải chăng là do vai trò của các acid amin trong rau muống tạo ra, chẳng hạn Arginine với tác dụng tăng NO nội sinh?
Liên hệ Tây y, vì rau muống giàu caroten, vitamin C, sắt và calci nên ta có thể dùng rau muống khi bị thiếu các chất này.
Những trường hợp dùng rau muống phải thận trọng
- Huyết áp thấp; Huyết áp cao, nhịp tim chậm.
- Suy nhược nặng, hư hàn.
- Với vết thương, mụn nhọt đang trong quá trình lành, rau muống có thể làm sẹo lồi xấu.
- Đang uống thuốc Đông y, nếu ăn rau muống sẽ làm giã thuốc, nhất là khi trong thuốc có vị độc cần thiết để chữa bệnh (độc trị độc) và sẽ làm giảm hiệu quả điều trị.

CÂY HOA HƯỚNG DƯƠNG
Tên khác: Còn gọi là hướng dương quỳ tử, thiên quỳ tử, quỳ tử, quỳ hoa tử.
Tên khoa học: Helianthus annuus L. thuộc họ Cúc Asteraceae.
Phân bố: Cây có nguồn gốc từ Mexico, hiện tại được trồng khắp nơi ở nước ta.
Mô tả: Hướng dương là loài cây thảo sống 1 năm, thân to thẳng có lông cứng, thường có đốm, cao 1-3m. Lá to, thường mọc so le, có cuống dài, phiến lá hình trứng đầu nhọn, phía dưới hình tim, mép có răng cưa, hai mặt đều có lông trắng. Cụm hoa đầu lớn, đường kính 7-20cm, bao chung hình trứng; Hoa hình lưỡi, ngoài màu vàng; các hoa lưỡng tính ở giữa màu tím hồng. Cây ra hoa vào mùa đông, mùa xuân, có quả vào tháng 1-2.
Tránh nhầm lẫn: Theo sách Từ điển cây thuốc VN: Ở nước ta còn có loài “Hướng dương dại” (còn gọi là “sơn quỳ”, tên khoa học là Tithonia diversifolia (Hemsl.) A. Gray., cùng thuộc họ Cúc; cũng là loài cây gốc nhiệt đới châu Mỹ. Cây được nhập trồng, hiện nay mọc hoang dại ở nhiều nơi, từ đồng bằng tới vùng núi, thường thấy ở dọc các đường đi, bãi hoang… Hướng dương dại thường được dùng làm phân xanh, một số nơi lấy lá xát trị ghẻ.
Thành phần hóa học
Theo Hiện đại dưỡng sinh bảo kiện trung dược từ điển:
Hàm lượng dầu béo trong hạt hướng dương khoảng 50%, trong đó linolenic acid chiếm tới 70%. Còn chứa các phospholipid như lecithin, phosphatidylinositol, phosphatidylethanolamine. Hàm lượng protein khoảng 20-26%, trong đó các acid amin thiết yếu isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylamine, tryptophan, threonile, valine có tỷ lệ phần trăm gần giống tỷ lệ lý tưởng do WHO kiến nghị, do đó có giá trị dinh dưỡng tương đối cao.
Ngoài ra còn có các acid hữu cơ như citric acid, tartaric acid, chlorogenic acid, quinic acid, caffeic acid; beta caroten, nhiều loại vitamin và nguyên tố vi lượng. Ðặc biệt, vitamin E có hàm lượng rất cao trong hạt hướng dương (trong 15g có tới 31mg); Hàm lượng Ka-li (K) trong hạt hướng dương còn cao hơn trong chuối tiêu và quít.
Tác dụng
Theo Hiện đại dưỡng sinh bảo kiện trung dược từ điển:
1. Thí nghiệm trên động vật cho thấy, phosphatide trong hạt hướng dương có tác dụng dự phòng đối với chứng cao mỡ máu cấp tính và chứng tăng cholesterol máu mạn tính; nhưng tác dụng điều trị không rõ ràng.
2. Linolenic acid trong hạt hướng dương có tác dụng chống hình thành huyết khối đối với chuột thí nghiệm, do tăng cường sự hợp thành prostaglandin E nên ức chế sự bám dính tiểu cầu. 3. Một bộ phận lipoprotein trong hạt hướng dương có chứa những thành phần ức chế tinh hoàn; sử dụng làm nguồn đạm nuôi chuột trong 3 tháng, thấy tinh hoàn teo lại.
Toàn bộ các bộ phận của cây hướng dương đều được dùng làm thuốc.
Theo Ðông y: Hạt hướng dương có vị ngọt, tính bình, không độc. Tác dụng tư âm bổ hư, ninh tâm an thần, chỉ lỵ, thấu chẩn. Dùng chữa tinh thần uất ức, thần kinh suy nhược, chán ăn, đau đầu do suy nhược, đi lỵ ra máu, sởi không mọc được.
Công dụng của các bộ phận khác (theo Trung dược đại từ điển):
- Vỏ hạt có có thể dùng để chữa tai ù.
- Hoa hướng dương có tác dụng trừ phong, sáng mắt. Dùng chữa đầu choáng váng, mặt sưng phù, còn dùng để thúc sinh cho phụ nữ.
- Khay hạt hướng dương (còn gọi là quỳ phòng, hướng nhật quỳ hoa thác, hướng nhật quỳ hoa bàn) có tác dụng chữa đầu đau, mắt hoa, răng đau, đau dạ dày và bụng, phụ nữ thống kinh, sưng đau lở loét.
- Lá có tác dụng tăng cường tiêu hóa và chữa cao huyết áp.
- Lõi thân cành (còn gọi là hướng nhật quỳ ngạnh tâm, hướng nhật quỳ kinh tâm, hướng nhật quỳ nhương) có tác dụng chữa tiểu tiện xuất huyết, tiểu dưỡng chấp, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện khó khăn.
- Rễ cây hướng dương có tác dụng chữa ngực, sườn và vùng thượng vị đau nhức, thông đại tiểu tiện, chữa đòn ngã chấn thương, mụn nhọt lở loét chảy nước vàng.
Ứng dụng
- Chữa ho gà: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương 15-30g, giã nát, hãm nước sôi, thêm đường trắng và uống trong ngày (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa cao huyết áp: Dùng lá hướng dương khô 30g (hoặc 60g lá tươi), thổ ngưu tất 30g, sắc nước uống thay trà trong ngày (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa mắt mờ (nhãn mông): Dùng đế hạt hướng dương luộc với trứng gà, ăn trứng gà và uống nước thuốc (Giang Tây Thảo dược thủ sách).
- Chữa tai ù: Dùng vỏ hạt hướng dương 15g, sắc nước uống thay trà trong ngày (Dân gian thường dụng thảo dược hối biên).
- Chữa thượng vị đau tức do ăn không tiêu: Dùng rễ cây hoa hướng dương, hạt mùi, tiểu hồi hương; mỗi vị 6-10g, sắc nước uống (Tứ Xuyên trung dược chí).
- Chữa đau dạ dày, đau bụng: Dùng khay hạt hướng dương 1 cái, dạ dày lợn 1 cái, nấu canh ăn (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa kiết lỵ đại tiện xuất huyết: Dùng hạt hướng dương (đã bóc vỏ) 30g, hãm nước sôi trong 1 tiếng, pha thêm chút đường phèn uống trong ngày (Phúc Kiến dân gian thảo dược). – Chữa đại tiện không thông: Dùng rễ cây hoa hướng dương, giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm chút mật ong uống; Mỗi lần uống 15-30g, ngày uống 2-3 lần (Tuyền Châu bản thảo). – Chữa tiểu nhỏ giọt, dương vật đau buốt: Dùng rễ cây hoa hướng dương tươi 30g sắc với nước uống. Chú ý: chỉ đun sôi một vài phút, không nấu quá lâu sẽ mất tác dụng. Hoặc dùng lõi thân và cành cây hướng dương 15g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong nhiều ngày (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa sán khí – tinh hoàn sưng đau: Dùng rễ cây hoa hướng dương 30g, sắc với đường đỏ uống (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa sỏi thận, sỏi đường tiết niệu: Dùng lõi thân cành cây hướng dương một đoạn khoảng 1 mét, cắt ngắn, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong một tuần (Tô Y Trung thảo dược thủ sách).
- Chữa tiểu dưỡng chấp: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương một đoạn khoảng 60cm, rễ rau cần cạn 60g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong nhiều ngày (Tô Y Trung thảo dược thủ sách).
- Tuyến tiền liệt phì đại (dạng nhiệt tích ở hạ tiêu): Dùng khay hạt hướng dương 1 cái, mật ong lượng thích hợp. Khay hạt thái nhỏ, sắc hai nước, trộn nước đầu và nước hai, thêm mật ong vào cho đủ ngọt. Uống thay trà trong ngày (Thực vật dược dụng chỉ nam). – Chữa phụ nữ trước hoặc trong lúc hành kinh bụng dưới đau tức: Dùng khay hạt 30-60g, sắc lấy nước, hòa thêm đường đỏ uống trong ngày (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Chữa viêm tuyến vú: Dùng khay hạt hướng dương, bỏ hết hạt, thái nhỏ, sao vàng, tán thành bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 9-15g, hòa với rượu hoặc nước sôi, khi uống lần thứ nhất ra mồ hôi mới có kết quả (Trung dược đại từ điển).
- Chữa ung nhọt sưng tấy, lở loét: Dùng khay hạt thiêu tồn tính, nghiền thành bột mịn, hòa với dầu vừng bôi vào chỗ bị bệnh (Giang Tây thảo dược thủ sách).
- Ngoại thương xuất huyết: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương giã nát, đắp vào chỗ chảy máu (Nội Mông Cổ, Trung thảo dược tân y liệu pháp tư liệu tuyển biên).
- Chữa đau răng:
(1) Dùng hoa hướng dương phơi hoặc sấy khô, nhồi vào tẩu thuốc lá hoặc nõ điếu cày, hút như thuốc lá hoặc thuốc lào (Dân gian nghiệm phương tuyển biên).
(2) Dùng khay hạt hướng dương, rễ câu kỷ tử; mỗi thứ 10-15g, luộc với trứng gà, ăn trứng gà và uống nước thuốc (Giang Tây thảo dược thủ sách).

2 comments on “-Một số công dụng của các loại cây thuốc nam

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s